eBook EPUB/PDF/PRC miễn phí của tác giả “Vương Hồng Sển”

Phong Lưu Cũ Mới
Phong Lưu Cũ Mới Trong phần 'Tự ngôn' nhà văn hóa Vương Hồng Sển đã viết (Trích): “Tôi bình sanh thích những gì đẹp: giò lan hàm tiếu, đóa hoa mãn khai. Một cuốn sách đóng bìa khéo đủ làm tôi vui cũng như trên sân quần vợt, tôi lại thích những đường banh tuyệt vời, không đỡ gạt nổi. Càng thêm tuổi, tôi chuyên tâm về thẩm mỹ và văn hóa. Tôi trồng lan và nghiên cứu về lan, nhưng chỉ trồng chơi trong sân nhà, âm thầm ngắm nghía, săm soi lấy mình. Cụ Tú Hải Văn viết và Nguyễn Tuân nhắc lại trong Vang bóng một thời, chuyện những chiếc ấm đất: “Họ lịch sự như tiên, phú quí như trời, quất con ngựa rong chơi ngoài ngõ liễu; “Ta trồng cỏ đầy vườn, vãi hoa đầy đất, gọi hề đồng pha nước trước hiên mai.” Tôi thấy rất hay, nhưng thầm hỏi: đời nay dễ gì “quất con ngựa rong chơi”! Ngoài ngõ chẳng là tấp nập nhiều xe trên mười bánh! Cũng không thể “gọi hề đồng pha nước”! Đời bình dân, tự mình pha nước chắc ăn hơn. Họa chăng cỏ thì ai trồng cũng được, gặp cỏ lan “vương giả chi hương” thì càng quí.'
Tạp Bút Năm Giáp Tuất 1994
Tạp Bút Năm Giáp Tuất 1994 Đây là một trong những tập di cảo của học giả Vương Hồng Sển, lần đầu tiên được xuất bản.Với những trải nghiệm của tác giả về thời cuộc, về thú chơi đồ cổ, về những nhân vật sống cùng thời với ông.
Dỡ Mắm (Di Cảo)
Dỡ Mắm (Di Cảo) Trong cuốn sách này, Vương Hồng Sển viết về nhiều sự kiện và con người - kéo dài từ thời Pháp thuộc cho đến thời điểm 1983. Các nhân vật “có máu mặt” như các quân vương, toàn quyền, thống đốc, các kỹ nữ, ngôi sao màn bạc, các thường nhân của dĩ vãng hiện lên sống động qua hồi ức và tư liệu mà tác giả lưu giữ được. 'Ngồi buồn dở mắm nhau ra Mắm ông thì thúi mắm bà không thơm Tục đã sẵn câu: 'Mắm ngon chi lắm cũng có giòi'. biết kinh nghiệm, chịu khó vớt giòi ra là ăn được rồi. Thuở nay, ai chết không thành giòi? Giòi là hậu kiếp của con người, sạch hay dơ đều hóa giòi một thứ. Trước sau cũng phải thành giòi thì há dám lời nào? Nhưng tập này, dặn lại, khi chết rồi mới được in hay làm gì thì làm. Vậy, mạnh dạn cứ viết. Có người nào khi đọc không bằng lòng, dẫu trách cứ, S. vẫn không nghe, vì còn ở đây đâu nữa mà nghe!' (Vương Hồng Sển)
Bên Lề Sách Cũ
Bên Lề Sách Cũ Vương Hồng Sển trước sau là một tác giả lớn của miền Nam, người Sa Ðéc, sống và viết ở Sài Gòn. Những gì Cụ viết ra là đời sống của Cụ, là lịch sử biên niên từ nhỏ tới lớn, tới khi qua đời, và về những gì Cụ thấy. Các tác phẩm của Cụ tập trung tái hiện và lưu giữ lịch sử của một nền văn hóa nhân văn. Chúng được viết lại bởi một tấm lòng chân thành, đơn giản, với kinh nghiệm thực tế “điền dã,” và với tâm tình ưu ái về các thế hệ sau. Vì không phải là một thương gia, một chính ủy, một nhà cai trị, Vương Hồng Sển thông suốt đời sống với sách vở quí, với mỹ thuật nghìn đời, vừa chơi sách chơi cổ ngoạn, vừa viết sách và thu thập bảo trì... Những cuốn sách của Cụ Vương Hồng Sển luôn cho thấy một cốt cách học giả uyên bác, nghiêm cẩn, song, cũng rất bình dị, tự tại trong phần việc của một độc giả yêu thích và sống hết mình vì sách. Độc giả thế hệ hôm nay có thể hiểu rõ hơn về quan điểm sống cũng như cốt cách của Cụ thông qua nhiều ấn phẩm quý giá, chẳng hạn như Bên lề sách cũ Bằng việc đọc - phê phán, Cụ Vương Hồng Sển đã chỉ ra rất nhiều sơ suất, qua loa trong việc biên khảo, dịch thuật của nhiều người trong chốn học giới, trong đó, có cả những tên tuổi bấy lâu được coi khả tín, đứng tên trên những công trình quan trọng. Cụ vui vẻ tự nhận đó là việc “câu cua”: “Có câu ví: “Hãy cho bền chí câu cua, dầu ai câu chạch câu rùa mặc ai!” Và nghề “câu cua” của tôi là thu mót từ tập sách, cuốn sách bày bán bên lề, và “câu cua” cũng là lối viết bên lề tờ sách, miễn đừng đụng chạm?” Cụ Vương dành phần lớn dung lượng cuốn Bên lề sách cũ để bàn luận về các địa danh bị phiên âm, diễn giải sai trong những cuốn sách quan trọng về Nam kỳ. Đó là sự “tá hoả tam tinh” trước những bản dịch Nam kỳ lục tỉnh địa dư chí (Lê Quang Định soạn, Thượng Tân Thị dịch), Gia Định thành thông chí của sử gia Trịnh Hoài Đức (do Tu Trai và Nguyễn Tạo dịch) và cả cái sai do sự thiếu xác minh ở cuốn sử mới Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802 của Tạ Chí Đại Trường... Bên cạnh việc đọc, ghi chú một cách tỉ mỉ, với tư cách độc giả, Vương Hồng Sển còn lần tìm lại lịch sử, văn hoá Khmer (ông viết là Cơ-me), đi thâm nhập thực tế nghiên cứu cơ chế ngữ âm, thổ ngữ, lần dò theo giai thoại, điển tích các vùng miền... Vàm (trong Vàm Cỏ) là gì, tại sao nguồn sông Sài Gòn thì được gọi là Thuỷ Vọt chứ không phải là Thuỷ Bột hay Băng Bột như trong bản dịch của Tu Trai và Nguyễn Tạo, vì sao Gò Vắp chứ không phải Gò Bôi như cách dịch của Thượng Tân Thị; chỉ ra, giải nghĩa những địa danh Việt gốc Miên như Sốc Trăng (từ chữ Srok khléang, nghĩa là sốc có kho bạc), Sa Đéc (từ chữ Psar dek: chợ bán sắt), Mỹ Tho (Mé-sâ: người con gái có nước da trắng), Cần Thơ (Prek Rusei: sông tre), Bến Tre (kompong rusei: vũng tre), Cà Mau (Tuk Khmau: nước đen) hay rạch Bến Nghé (kompong kau-krabey: vũng trâu nghé)... Không chỉ chi li tìm kiếm những sai sót để phê phán thẳng thắn, không tiếc những lời lẽ nặng nề bộc trực của người đọc thất vọng về những bản sách quá nhiều lỗi nặng, mà đôi khi Cụ Vương còn tỏ bày sự hoan hỉ khi đọc những cuốn sách, những bài viết dày công phu của bạn hữu cùng thời như Lê Hương với cuốn Người Việt gốc Miên (xuất bản năm 1959), Nguyễn Hiến Lê với thiên ký sự 7 ngày trong Đồng Tháp Mười, học giả Lê Thọ Xuân với lối phê phán dịch thuật “hấp dẫn, đọc vui”... Thông tin tác giả Vương Hồng Sển (1902 - 1996), bút hiệu Anh Vương, Vân Đường, Đạt Cổ Trai, là một nhà văn hóa, học giả, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng. Ông được xem là người có hiểu biết sâu rộng về miền Nam và rất được kính trọng trong giới sử học và khảo cổ ở Việt Nam. Khi qua đời, ông đã hiến tặng ngôi nhà - vốn được gọi là Vân đường phủ, và toàn bộ sưu tập đồ cổ của mình cho Nhà nước Việt Nam (tổng cộng 849 cổ vật khác nhau) với hy vọng thành lập một bảo tàng mang tên ông. Năm 2003, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố ngôi nhà này tại địa chỉ số 9/1 đường Nguyễn Thiện Thuật, phường 14, Quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh. Một số tác phẩm của Vương Hồng Sển: Thú chơi sách (1960); Hồi ký 50 năm mê hát (1968); Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa (1972); Tạp bút năm Nhâm Thân 1992 (1992); Tạp bút năm Quí Dậu 1993 (1993); Tự vị tiếng Việt miền Nam (1994)...
Sài Gòn Tạp Pín Lù
Sài Gòn Tạp Pín Lù Cụ Vương Hồng Sển (1902-1996) là một nhà văn đặc biệt Nam bộ mà cũng là một học giả, một nhà cổ ngoạn có một không hai Việt Nam. Ông có một bút pháp độc đáo, duyên dáng… mà vài thập kỉ của thế kỉ XX chưa có nhà văn nào có thể so sánh được. Vào buổi vãn niên, ông có mấy tác phẩm mà ông cho là “tâm đắc” của mình được xuất bản, trong đó có cuốn Sài Gòn tạp pín lù (tức Sài Gòn năm xưa II, III) nối tiếp Sài Gòn năm xưa I xuất bản từ năm 1962 tại Sài Gòn. Nói như tác giả (VHS), Sài Gòn tạp pín lù là ông nhớ đâu viết đó và viết bằng máy chữ nên rất tự do, tự nhiên, chân thành và không kém thân tình. Sài Gòn tạp pín lù đến với chúng ta tuy trễ, nhưng vẫn được độc giả say sưa đọc bởi vì bút pháp cùng với văn phong cố hữu có một không hai của nhà cổ ngoạn họ Vương. Có thể nói Sài Gòn tạp pín lù như là một thứ Sài Gòn vang bóng của tác giả và của cả dân Sài Gòn từng vui buồn với đất Bến Nghé từ bao giờ cho đến bây giờ. Đã lâu lắm chúng ta mới được thưởng thức một bữa Tạp pín lù đặc biệt. Nói là đặc biệt bởi vì người nấu và dọn cho chúng ta bữa ăn này là nhà văn, nhà học giả kiêm nhà chơi cổ ngoạn Vương Hồng Sển lão thành. Sài Gòn tuy không có một quá khứ “nghìn năm văn vật” như Hà Nội, Huế; nhưng nơi đây lại có những “nam thanh nữ tú”, nhứt là có một cái duyên ngầm tạo được những sợi dây tình cảm cắt không đứt bứt không rời. Trong số những người nặng tình với Sài Gòn, chúng tôi biết có nhà văn Vương Hồng Sển. Từ năm 1962, ông có cuốn Sài Gòn năm xưa (1962) mà trong bản in đầu ông từng viết: “Đối với các bạn nhỏ, tôi (VHS) xin nói lớn: 1- Chỗ nào các bạn thấy mới, đừng sợ, ấy là tôi đã cân nhắc kĩ càng, cứ tin, cứ dùng: “coi vậy mà xài được”. 2- Chỗ nào chưa “êm”, nhờ các bạn chỉ giùm, nếu tìm cách bổ khuyết càng tốt, gọi giúp lẫn nhau, già thua trẻ không xấu, mắc cỡ bậy, hay gì?”. Vậy Sài Gòn năm xưa I là phần nói về nguồn gốc và vị trí của thành phố Sài Gòn. Còn Sài Gòn tạp pín lù (II, III) là phần nối tiếp để nói về “nam thanh nữ tú”, về cảnh sinh hoạt của Sài Gòn khoảng 70, 80 năm về kỉ niệm xưa, về những mối vương vấn tưởng là tầm thường, nhưng đã để lại trong lòng người với những rung động còn kéo dài mãi đến bây giờ và có thể tận mai sau. Tác giả gọi là “Tạp pín lù” là để nói về mọi việc, để không bị gò bó bởi thứ tự thời gian, để “nhớ đâu nói đó”, để mở rộng giới hạn cho câu chuyện của mình. Cái duyên riêng của “cụ Năm Sển” là ở đó. Nói “cu cu chằng chằng” nhưng không lạc đề mà lại rất giàu nghệ thuật. Xã hội miền Nam thời Pháp thuộc - mà nay cũng gần như vậy – là một xã hội “tứ chiếng”, một xã hội có tính cách “siêu quốc gia” (cosmopolite) với đông đủ các mặt “Tây, Chệt, Chà Maní”; với những nhân vật có nhiều khía cạnh lạ lùng mà ngày nay trong mắt chúng ta, những người miền Nam không thuộc hàng những người cố cựu, có vẻ như bị bao phủ trong một không khí huyền thoại. Cô Ba Trà, cô Tư Nhị, cô Sáu Ngọc Anh, cô Năm Pho, cô Bảy Hột Điều… bao nhiêu người đẹp của một thời mà tác giả Sài Gòn tạp pín lù đã nhắc lại, gợi lại làm chúng ta khi nghe, cảm thấy bồi hồi khi nghe như thi sĩ Villon ngày xưa của Pháp đã ngâm “Đâu rồi những vần tuyết cũ” (Mais òu sont les neiges d’antan?) mà cứ mãi vương vấn bên mình! Sài Gòn tạp pín lù còn là một thứ  “đi tìm thời gian đã mất” (à la recherche du temps perdu), một thứ hành hương về quá khứ để hồi tưởng về những thú vui, những cảm xúc, những mùi vị nay không còn nữa! Tô cháo cá chợ Cũ, bát phở đường Turc (nay là đường Hồ Huân Nghiệp), món bò bung, bánh hỏi của ông già Thủ Đức… cũng tạo được sự kì diệu của chiếc bánh Madeleine nhúng vào tách nước trà tilleul đối với Marcel Proust năm nào ở trời Âu. “Javais vingt ans et c’était le printemps” câu hát của Vương Hồng Sển trong Sài Gòn tạp pín lù mà chúng tôi xin phép được đổi từ thì hiện tại ra thì quá khứ để cùng nhau tiếc cái tuổi Hai mươi và mùa xuân rực rỡ của mình. Cái thú đọc Sài Gòn tạp pín lù là ở đó, mà cũng tại văn phong cụ Sển nữa.
Nửa Đời Còn Lại
Nửa Đời Còn Lại Tôi đã 92 tuổi đầu, chỉ chờ ngày xuống lỗ và đã hết ham vừa danh vừa lợi,... nay tôi lại quyết viết mươi trang cà kê cho được hả hơi, vả lại tôi đã hết thời giờ tra cứu tài liệu cũ, vậy tôi xin người đọc hiểu cho tôi, đây là tôi thố lộ tất cả chân tình, tôi tỏ bày riêng cái nghe thấy cạn hẹp của một tên may thời còn sót lại và đã được mớ người trẻ và người cao kiến muốn biết chút lòng kẻ sống dai này thôi.
Vương Hồng Sển – Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993 (Di Cảo)
Vương Hồng Sển - Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993 (Di Cảo)   “Tạp bút năm Quí Dậu” được cụ Vương Hồng sển viết như trăng trối, có khi chỉ là những chuyện lụn vụn, “tào lao”, “loạn xà ngầu”, nhưng với người đến sau, nó mang một giá trị to lớn, chất chứa những niềm say mê, và quyến rũ… bởi đó là những âm thanh của cuộc biến động ngoài xã hội được vọng lại, dồn nén, rồi bật ra thành lời… Là một người rất khoa học trong tổ chức công việc, cụ Vương Hồng Sển ghi chép vào sổ tay những số liệu của đời sống riêng và chung, từ chi tiết lặt vặt như giá mua một bộ đồ trà, cho đến những chuyện lớn như Nguyễn Du đi sứ năm nào và Truyện Kiều ra đời vào năm nào… Những chi tiết được xâu chuỗi tài tình khiến người đọc như bị thôi miên và thỉnh thoảng giựt mình vì những khám phá mới lạ. Ông cũng là một nghệ sĩ tài hoa và dày dạn kinh nghiệm (với cả một chút cực đoan) trong việc thể hiện cảm xúc lên trang giấy. Điều này đã làm nên một phong cách rất đặc biệt, có thể nói là “độc nhất”. Cái lối viết vừa ngang tàng, vừa say sưa, vừa mềm mại uyển chuyển, luôn hút mắt người đọc!
Sài Gòn Năm Xưa
Sài Gòn Năm Xưa Bởi thấy tôi là người trong Nam, đầu pha hai thứ tóc, làm việc trong một cơ quan chuyên môn, thêm có tánh ham chơi cổ ngoạn, tom góp giấy má cũ đầy nhà, rồi tiếng đồn truyền ra: tôi sành sỏi chuyện xưa, tôi giỏi kê cứu điển cố, báo hại phần đông văn hữu Bắc và Trung, ông nào quen một đôi lần, gặp nhau, hết năm ba câu lấy lệ, làm gì cũng hỏi vặn tôi về: 'gốc tích hai chữ 'SÀI GÒN' Nói ư? - Chỉ bày cái dốt của mình ra! Nín ư? - Người cười, càng thêm khó chịu! Thôi thì còn một cách: ôm mớ tài liệu thâu thập bấy lâu - dù hay dù dở, dù chưa bằng bụng, mình biết lấy mình - bày hết, trình hết ra đây, mặc tình các vị xa gần tùy thích lựa chọn: 'tóc tơ cặn kẽ đuôi đầu', dù chẳng làm nên cái bánh ngon, cũng được tiếng là không xấu bụng! Đối với các bạn nhỏ hiếu học, tôi xin nói lớn: - Chỗ nào các bạn thấy mới, đáng sợ: ấy tôi đã cân nhắc kỹ càng, cứ tin cứ dùng: 'coi vậy mà xài được'! - Chỗ nào chưa 'êm', nhờ các bạn chỉ giùm, nếu tìm cách bổ khuyết càng tốt, gọi giúp lẫn nhau: già thua trẻ không xấu, mắc cỡ bậy, hay gì? Đối với các học giả, các bậc lão thành, các vị cố cựu đất Sài Gòn, tôi xin 'nghiêng tai nghe dạy, chắp tay đứng hầu'. Học giả tiền bối trong Nam, cụ Trương Vĩnh Ký, trong 'Excursions et Reconnaissances' (tạp chí về du lãm và thám hiểm), tập số 23, tháng Năm và Sáu năm 1885, có viết một bài khảo cứu Pháp Văn 'Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs' (ký ức lục khảo về lịch sử Sài Gòn và vùng phụ cận). Bài này viết hai mươi lăm năm sau năm Nam Kỳ thất thủ (1859-1885). Nay tôi dựa theo bài ấy làm nồng cốt mà kể tiếp, nhắc lại những sự biến đổi từ thuở đó cho đến ngày Sài Gòn trở về với dân Việt, ngót một trăm năm. Bắt tay vào việc, cốt ý của tôi là muốn cống hiến ra đây mớ hiểu biết lụn vụn và mớ nghe thấy vặt vãnh về Sài Gòn. Cũng nghĩ nếu mãi sụt sè, đến ngày xuống lỗ, chắc gì ôm theo được (mà chừng đó ôm theo ích gì cho ai?) - Ở đây, tôi chú trọng nhiều nhứt là những đoạn sử vụn vặt buổi giao thời: Pháp - Nam - Chà - Chệc chung đụng, những chuyện 'Tây đến Tây đi', những việc chưa ai nói rõ ràng, may tôi được nghe tận tai, hoặc thấy tận mắt, nhiều đoạn do hiểu biết riêng, lắm đoạn nhờ các cố lão thuật lại. Tôi không dám chắc đúng cả, nhưng 'ăn trầu ngẫm mà nghe' bây giờ chưa nói còn đợi lúc nào? Có nói có cãi, lần hồi mới phăng ra sự thật. Tôi không quên cám ơn anh bạn thân Lê Ngọc Trụ, người nhau rún Chợ Lớn, đã dày công giúp tôi xây dựng tập nhỏ này. Cũng như tôi không dám quên ơn tất cả các bạn xa gần đã góp sức cùng tôi, trong số, điển hình nhứt, có anh Mười Minh Tải Đặng Văn Ký, người đồng cảnh ngộ với cụ Trần Trọng Kim Tân Gia Ba thuở nọ. Nay Anh Mười nằm khoảnh làm ẩn sĩ, ấp Đông Nhì, Gò Vấp. Anh không làm gì hết, nhưng anh dày công ủng hộ tôi về mặt tinh thần, giúp thêm ý kiến, và đã đổ nhiều bọt oáp trong khi cùng tôi tìm hiểu địa điểm 'Mả Ngụy' ngày nay nằm nơi đâu! Còn một người nữa, bạn già với nhau, ông Hoàng Xuân Lợi, họa sĩ Viện Bảo Tàng. Mấy ảnh chụp khéo, mấy bức địa đồ công phu không có, làm sao tập nhỏ này thành hình? Bác Lợi, cảm tình chất chứa tận đáy lòng, tôi vội gói làm một gói 'tri ân nồng hậu', xin Bác vui nhận. Thông tin tác giả: Vương Hồng Sển sinh ngày 27 tháng 9 năm 1902, tại Sóc Trăng, mang ba dòng máu Việt, Hoa, Miên. Nguyên tên thật ông là Vương Hồng Thạnh hay Vương Hồng Thịnh, khi làm giấy khai sinh người giữ sổ lục bộ ghi nhầm là Sển (theo cách phát âm tiếng Hoa). Thời học sinh, ông học tại trường Collège Chasseloup Laubat (nay là trường Phổ thông trung học Lê Quý Đôn). Sau khi đậu bằng Brevet Elémentaire, ông làm công chức ngạch thư ký và phục vụ nhiều nơi từ năm 1923 đến năm 1943, trong đó có dinh Thống đốc Nam Kỳ (1939-1943). Từ năm 1948, ông làm Quyền quản thủ Viện Bảo tàng Quốc gia Sài Gòn cho đến khi về hưu vào năm 1964. Ông là người rất ham mê đọc sách và thích ghi chép tất cả những điều tai nghe, mắt thấy. Phần lớn những tác phẩm của ông rút tỉa từ những tài liệu dưới dạng hồi ký mà ông còn giữ gìn được.
Vương Hồng Sển – Tạp Bút Năm Nhâm Thân 1992 (Di Cảo)
Vương Hồng Sển - Tạp Bút Năm Nhâm Thân 1992 (Di Cảo) Vẫn một giọng văn quen thuộc vừa dung dị, mộc mạc đầy sức cuốn hút, và trên hết vẫn là cái tinh thần Viễn Đông Bác Cổ: nói có sách, mách có chứng. Những trang tạp bút được ghi lại dưới dạng nhật ký kèm theo hồi ức, những sự kiện nhỏ từ lúc còn bé thơ cho đến cuối đời người thăng trầm dâu bể, luôn phảng phất sự hoài vọng với văn hóa của tổ tiên, của nhân loại. Lật từng trang, có thể bắt gặp những con người, những cảnh vật đã chìm sâu trong ký ức của một thế hệ, hoặc tưởng đã vĩnh viễn theo thời gian. Những câu chuyện đời thường, những tinh hoa thu được từ bao nhiêu năm nghiên cứu sưu tầm được tác giả luận bàn với một văn phong Nam bộ cổ xưa cùng những thành ngữ hết sức dí dỏm, độc đáo. Đọc tạp bút của ông để cùng đồng cảm với tinh thần nhân bản trong con người ông – một nghệ sĩ khát vọng vươn tới cái đẹp cho đến phút cuối cuộc đời.