eBook EPUB/PDF/PRC miễn phí của tác giả “Thích Nhất Hạnh”

Bông Hồng Cài Áo (Tái Bản 2015)
Bông Hồng Cài Áo (Tái Bản 2015) Một Mùa Vu Lan nữa sắp đến, mùa của rộn ràng yêu thương, mùa của tri ân sum vầy.Ý niệm về mẹ thường không thể tách rời ý niệm về tình thương. Mà tình thương là một chất liệu ngọt ngào, êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu tình thương thì không lớn lên được. Người lớn thiếu tình thương thì cũng không "lớn" lên được, cằn cỗi, héo mòn". Và mẹ luôn là suối nguồn của tình yêu thương.Nhìn thấy ai ai cũng bày tỏ "Mùa báo hiếu" bằng nhiều hình thức như: đi chùa, dâng hương, an chay, niệm Phật, hay cũng có thể vẫn giữ một nếp sống sinh hoạt như thường ngày,… Mỗi người một vẻ, mỗi người một trái tim, mỗi người có một tình yêu mẹ riêng nhưng có lẽ đọng lại trong tất cả chúng ta là niềm tri ân cao quý về công ơn sinh thành của bậc cha mẹ, sẽ mãi khắc sâu trong tâm trí của mỗi người. Và dù cho mãi sau, có đi đây về đâu chăng nữa, thì chúng ta vẫn biết rằng, ba mẹ vẫn mãi còn dõi theo bước con.Mỗi độ Vu Lan về là dịp để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn thành kính lên cha mẹ. Hãy tận dụng thời gian đừng để phải hối hận vì lòng hiếu thảo là động lực giúp gia đình hạnh phúc, đầm ấm. Đây cũng chính là mong muốn của cha ông ta ngày trước, muốn cho con cháu đời sau luôn luôn sống có nhân nghĩa biết nhớ công ơn của cha mẹ. Bông Hồng Cài Áo gửi gắm một tấm lòng thiết tha, một món quà chứa đựng sự biết ơn mà những người làm con dành tặng cho cha mẹ. Không chỉ trong ngày lễ Vu Lan mà bất cứ lúc nào, cũng hãy nhớ đến các đấng sinh thành và thể hiện lòng biết ơn, tình thương của mình với họ."Sau khi chào đời ta có những lúc không vừa ý, nên đa số chúng ta đều cảm thấy rằng thời gian trong bụng mẹ là một thời gian tuyệt vời. Ta khỏi phải lo lắng về thức ăn thức uống. Ta được che chở khỏi nóng và lạnh. Ta khỏi làm bài tập ở nhà và công việc bếp núc. Khi được bảo vệ trong bụng mẹ ta cảm thấy an toàn. Ta khỏi phải lo lắng gì cả. Và điều đó thật là tuyệt vời. Tôi chắc rằng nhiều người trong chúng ta vẫn còn nhớ về khoảng thời gian đó." (Cung điện hài nhi) "Khi bạn bước, bạn bước cho ai? Bạn có thể bước để đến một nơi chốn nào đó, nhưng bạn cũng có thể bước như một lối hiến tặng thiền tập. Thật là hiếu thảo khi bạn bước cho cha mẹ hay ông bà vì ông bà, cha mẹ có thể đã không biết thực tập bước đi trong chánh niệm. Tổ tiên bạn có thể suốt đời đã không có cơ hội bước đi trong thanh thản hạnh phúc và an trú vững chãi trong hiện tại. Thật là tội nghiệp; nhưng chúng ta không phải lặp lại tình trạng ấy." (Bước đi với đôi chân của cha mẹ) "Tình thương của ta đối với mẹ có thể bị cơn giận và nỗi thất vọng chen vào. Năng lượng chánh niệm có thể giúp ta nhận diện nỗi đau của ta về cha mẹ giúp ta ôm lấy niềm đau ấy như một bà mẹ ẵm con khi con khóc. Hồi bé thơ, khi bạn khóc, chắc chắn mẹ sẽ ngưng mọi việc và ẵm bạn lên rồi ôm bạn vào lòng. Nếu mẹ không có đó thì một người khác sẽ làm thay mẹ. Khi ta nhận diện và ôm lấy nỗi đau buồn trong ta thì nỗi đau buồn đó sẽ được lắng dịu như em bé trong vòng tay của mẹ." (Sự hòa giải)
Kết Một Tràng Hoa
Kết Một Tràng Hoa Kết một tràng hoa là một bản dịch từ kinh Pháp Cú trong tạng Hán của Tôn giả Pháp Cửu, một trong những vị luận sư nổi tiếng của bộ phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ. Trong tác phẩm này, tác giả đã chuyển các bài kệ của kinh thành văn xuôi với lời văn thật đẹp và dễ hiểu.Ý nghĩa tựa sách Kết một tràng hoa cũng ví như công việc của người chuyên môn xâu kết tràng hoa. Trước hết người ấy phải đi hái hoa, nghĩa là đọc hết các kinh điển, và chọn ra những ý kinh, những bài kệ mang tính chất cốt tủy của Phật pháp. Rồi người ấy tập hợp các bài kệ này dưới những chủ đề khác nhau, cũng như hoa nhài để riêng, hoa huệ để riêng, hoa vạn thọ để riêng. Người ấy bỏ những bài kệ mà nghĩa lý còn mù mờ, chỉ chọn những bài kệ nghĩa lý thật sáng 3 tỏ, cũng như cầm hoa mà rũ, làm rơi rụng những cánh hoa không còn tươi thắm, để chỉ còn những đóa hoa thật tươi, trước khi xâu kết thành tràng hoa.
Bây Giờ Mới Thấy
Bây Giờ Mới Thấy Bây giờ mới thấy nghĩa là bấy lâu nay chưa từng thấy. Bấy lâu nay có thể mình đã đi tìm nhưng chưa từng thấy. Và có thể là bây giờ mình không đi tìm nữa, cho nên mình mới có cơ hội thấy. Thấy cái gì và mình đã đi tìm cái gì?Mình đã đi tìm cái gì nhỉ? Mình đã đi tìm ai? Có thể mình đã đi tìm chính mình, để biết mình là ai? Ai là người đang niệm Bụt ? Ai là người đang thực tập quán chiếu, ai là người đang tu?Ngày xưa cách đây khoảng 50 năm, tại chùa Bảo Liên, đảo Lantau, trên vách nhà có viết một bài kệ như sau:Hữu độ tức phi tịnhNgôn thuyên hà sở vi?Phật thuyết nguyên vô ngãThiền sư vấn thị thùyHễ có một cõi thì cõi ấy không thể là cõi tịnh được. Có cõi thì có sự sống. Có sự sống nghĩa là có ăn uống, có bài tiết. Có thiền đường mà cũng có cầu tiêu. Có cầu tiêu thì không phải là tịnh rồi. Vậy thì cõi ấy, cõi tịnh độ của Bụt A Di Đà mà những người tịn độ đang cầu về có thực sự là một cõi tịnh hay không?Ngôn thuyên hà sở vi có nghĩa là ngôn thuyết dùng để làm gì? Hễ mở miệng là mắc quai. Chỉ cần nói ra hai tiếng tịnh độ là đã bị kẹt. Hễ có độ là không thể có tịnh. Hữu độ tức phi thịnh nghĩa là thế.Nếu điều Bụt dạy về vô ngã là đúng thì thiền sư là ai? Theo Tịnh độ thì bị kẹt đã đành mà theo Thiền cũng bị kẹt. Vị thiền sư mà mình đang tham vấn có phải là một cái ngã không? Mình là ai, vị thiền sư là ai? Ai là người niệm Bụt, ai là người đang tham vấn với vị thiền sư? (Thích Nhất Hạnh)
Con Sư Tử Vàng Của Thầy Pháp Tạng
Con Sư Tử Vàng Của Thầy Pháp Tạng Nữ hoàng Võ Tắc Thiên rất thích nghe thầy Pháp Tạng thuyết pháp, một hôm bà đã mời thầy vào cung giảng kinh. Thấy trong cung có một con sư tử bằng vàng, vậy là thầy cầm lên và lấy nó làm ví dụ để giảng về giáo lý Hoa Nghiêm cho nữ hoàng nghe. Sau buổi ấy, thầy về chùa và ghi chép lại những điều mình đã giảng. Đó chính là tác phẩm Hoa Nghiêm Kim Sư tử Chương. Quyển sách này gồm nguyên tác kinh Hoa Nghiêm Kim Sư Tử Chương, dịch nghĩa và bình giảng của thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Ngoài ra, thiền sư Thích Nhất Hạnh còn giảng sâu hơn về Ngũ Giáo, Thập Tông theo chủ trương của Tông Hoa Nghiêm. Con Sư Tử Vàng Của Thầy Pháp Tạng là một tác phẩm không dễ đọc, nhưng càng tìm hiểu sâu hơn thì người đọc càng thấy dễ hiểu và thú vị.
Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời
Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời Suối nguồn phát sinh của đạo Phật là một sự giác ngộ về sự thật của cuộc đời (Tứ diệu đế), vì vậy đạo Phật có tính cách vượt lên trên cuộc đời. Sự vượt lên ở đây là một kết quả tất nhiên của giác ngộ, vì mọi giác ngộ đều đưa tới một sự thức tỉnh và giải phóng. Con người giác ngộ không còn là con người bị sai sử và chìm đắm trong cuộc đời nữa. Con người giác ngộ là con người tự do, vượt ra khỏi những tối tăm, quên lãng và phó mặc của cuộc đời. Những con người giác ngộ đi vào cuộc đời bao giờ cũng đem theo tâm niệm giải thoát, không tham đắm, không cố chấp. Có như thế ta mới thấy được tính chất của sự vượt lên trong thái độ dấn thân vào cuộc đời của những con người giác ngộ. Tính chất vô trước của hành động là một bằng chứng cụ thể chứng minh cho sự hiện hữu của giác ngộ. Vô trước có nghĩa là không bị dính vào. Cố nhiên con người giác ngộ sẽ không những không bị dính vào tham vọng, quyền hành và lợi danh mà còn không bị dính vào những cố chấp có tính cách tri thức như quan điểm và sự phân biệt nhân ngã nữa. Đó là thái độ tự do, vô tâm, vô trú của các bậc Bồ tát mà kinh Kim Cương Bát Nhã đã diễn tả trong rất nhiều đoạn. Bàn luận đến đề tài đem đạo Phật đi vào cuộc đời, chúng ta phải ý thức được những điểm trên của giáo lý tức là các nguyên lý vượt lên, dấn thân và vô trước, thì mới có thể tránh khỏi được những sai lạc căn bản. Ngay cái mệnh đề đạo Phật đi vào cuộc đời cũng đã không được ổn thỏa, bởi vì phân tích nó ta sẽ có cảm tưởng đạo Phật là một cái gì đang ở bên ngoài cuộc đời và vì vậy cần phải đem nó đi vào trong cuộc đời. Sự thực thì không phải như vậy. Đạo Phật đã được phát sinh từ trong lòng của cuộc đời, đã được nuôi dưỡng bởi cuộc đời và đang tồn tại vì cuộc đời. Đem đạo Phật đi vào cuộc đời có nghĩa là thể hiện những nguyên lý đạo Phật trong sự sống, thể hiện bằng những phương thức phù hợp với thực trạng của cuộc đời để biến cải cuộc đời theo chiều hướng thiện mỹ. Chừng nào sinh lực của đạo Phật được trông thấy dào dạt trong mọi hình thức của sự sống, chừng đó ta mới có thể nói được rằng đạo Phật đang thật sự hiện hữu trong cuộc đời. Sinh lực ấy được nhận thức qua những dấu hiệu sau đây mà chúng tôi xin lần lượt trình bày: 1. Sự hiện diện vô hành của đạo đức 2. Sự hiện diện của ngôn ngữ đạo đức 3. Sự hiện diện hữu hành của đạo đức Mục lục: Đạo Phật đi vào cuộc đời Nói chuyện về vấn đề đóng góp Đức Phật của thế kỷ chúng ta Để thiết lập đối thoại Đi tìm Prajnapti cho thời đại Chính trị và tôn giáo Đạo Phật - Con đường thực nghiệm tâm linh Người trí thức và đạo Phật.
Tuổi Trẻ – Tình Yêu – Lý Tưởng
Tuổi Trẻ - Tình Yêu - Lý Tưởng Tuổi Trẻ - Tình Yêu - Lý Tưởng của Thiền sư Thich Nhất Hạnh, là những lời gửi gắm dành cho tuổi hai mươi Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI về một giấc mơ Việt Nam và lý tưởng của tuổi trẻ. 'Có những người trẻ không có khả năng đối trị được với các cơn cảm xúc của họ. Và khi quá đau khổ họ nghĩ rằng chỉ có chết mới chấm dứt được khổ đau thôi. Vì vậy có rất nhiều người trẻ tự sát khi họ lâm vào trạng thái tuyệt vọng, cô đơn hoặc chán chường. Ở Pháp mỗi ngày trung bình có 30 thanh niên tự tử vì lý do đó. Bạn ơi, cảm xúc chỉ là một cơn bão, nó tới, nó ở lại vài mươi phút, rồi nó đi. Tại sao ta phải chết vì nó? Ta có thể nhận diện nó, mỉm cười với nó, ôm lấy nó, và học hỏi được rất nhiều từ nó. Bạn nắm cho vững phương pháp thực tập đi, và bạn chỉ cách cho những người trẻ thực tập. Một cảm xúc mãnh liệt cũng giống như một cơn bão tố có thể gây ra nhiều tai hại. Ta phải biết cách bảo vệ ta, phải tạo ra một không gian an toàn để ẩn náu trong thời gian cơn bão tố còn tồn tại. Sau mỗi cơn bão tố, họ trở thành cứng cáp hơn, vững chãi hơn, quắc thước hơn và họ không còn sợ những cơn bão tố nữa. Họ không cầu cho 'trời yên bể lặng', họ chỉ thực tập cho 'chân cứng đá mềm'. Bạn nhận diện và ôm ấp nỗi buồn, cơn giận hay niềm tuyệt vọng đó một cách ưu ái và hết lòng, cũng giống như một bà mẹ đang ôm trong tay đứa hài nhi của chính mình khi em bé bị sốt, với tất cả tình thương.Còn nếu bạn biết nắm lấy hơi thở, ôm lấy niềm đau, duy trì được lòng xót thương, thì khả năng lắng nghe của bạn sẽ lớn lắm và bạn có thể làm hay hơn những nhà trị liệu tâm thần!” 'Thế kỷ thứ hai mươi là một thế kỷ có nhiều máu lửa và hận thù. Chủ nghĩa cá nhân đã lên ngôi trong thế kỷ ấy. Chúng ta cần học bài học của lịch sử. Ta không thể đi tìm hạnh phúc cá nhân và đi tìm bằng đường lối bạo động. Tất cả chúng ta đều cùng hội cùng thuyền. Ta không thể đi như một cá nhân, như một giọt nước. Một giọt nước sẽ bốc hơi trước khi ra tới biển cả. Chúng ta phải đi như một dòng sông, nương vào nhau, tay trong tay, cùng bảo hộ cho nhau, cùng nâng đỡ nhau. Thế kỷ hai mươi mốt phải là thế kỷ của tình huynh đệ.'
Đạo Phật Của Tuổi Trẻ
Đạo Phật Của Tuổi Trẻ Đạo Phật của tuổi trẻ là tổng hợp các bài giảng của Sư ông Thích Nhất Hạnh cho Gia đình Phật tử Việt Nam tại Hoa Kỳ trong các khóa tu năm 1997, 1998, và 1999 tại chùa Vạn Hạnh, Cali và tại đạo tràng Thanh Sơn, tiểu bang Vermont. Cuốn sách được tạm chia thành các chương riêng biệt để độc giả tiện theo dõi nên không theo thứ tự thời gian. Gia đình Phật tử là một trong những thành trì cuối cùng mà chúng ta còn giữ được. Gia đình Phật tử có mặt cũng là để bảo vệ cho con em của ta, để ta đừng bị mất mát, đừng đi vào con đường tan rã. Gia đình Phật tử nằm giữa hai bên và có thế đứng cũng như sứ mệnh của nó. Một bên là học đường, một bên là gia đình. Gia đình Phật tử cũng được cấu tạo bởi những thành viên giống như những gia đình khác. Trong đó có người lớn đóng vai trò phụ huynh và có người nhỏ đóng vai trò con em. Mỗi đoàn sinh của Gia đình Phật tử đều có hai gia đình: gia đình tâm linh là Gia đình Phật tử và gia đình huyết thống. Hai gia đình này hỗ trợ cho nhau và sự tu tập của gia đình tâm linh sẽ đem lại nhiều lợi lạc cho gia đình huyết thống của đoàn sinh. Tất cả chúng ta đều biết rằng mục đích của Gia đình Phật tử là để nuôi dưỡng đạo đức của mỗi đoàn sinh từ Oanh vũ cho đến Huynh trưởng. Nuôi dưỡng đạo đức để cải thiện nếp sống gia đình, cải thiện nếp sống học đường và cải thiện nếp sống xã hội. Chúng ta phải có một đường lối giáo dục rõ ràng mới có thể làm được điều đó. Ai cũng biết điều đó, nhưng thực sự thì chúng ta đã và đang làm được gì, nhất là trong khi chúng ta rất lẻ loi, không có sự yểm trợ của học đường, không có sự yểm trợ của gia đình? Làm thế nào để có một thế liên kết giữa Gia đình Phật tử và gia đình huyết thống cũng như giữa Gia đình Phật tử với học đường? Khi một cái cây đã già cỗi thì chúng ta phải biết phương pháp làm cho cái cây đó mạnh mẽ trở lại. Một cái cây có thể có nhiều gốc rễ và nếu chất liệu dinh dưỡng trong lòng đất không đầy đủ thì chúng ta phải làm sao để tăng cường, để bồi dưỡng chất liệu dinh dưỡng đó? Nếu một vài cái rễ dưới đất mà tìm ra được một vùng đất mới có nhiều chất dinh dưỡng thì chính những cái rễ đó sẽ đi xa để mang dinh dưỡng về cho toàn cây và sẽ đem lại sinh lực mới cho cây. Cây là tượng trưng cho một thực tại sinh động, luôn luôn chuyển biến và lớn lên. Khi cái cây ngừng lớn là bắt đầu thoái hóa. Vì vậy ta phải làm mọi cách có thể để cho cái cây Gia đình Phật tử tiếp tục lớn mạnh, đừng để cho nó bị thoái hóa. Trích đoạn hay: Một niềm tin chung Trên con đường về Đạo Tràng Thanh Sơn sau khi mãn khóa tu ở Omega Institute tại tiểu bang New York, tôi thấy một pano quảng cáo như thế này: “Có vấn đề hả? Tại sao không thử cầu nguyện đi?” Và cách đó không xa có một pano khác viết: “Gia đình nào biết cầu nguyện chung thì không tan rã”. Chắc chắn là nhà thờ nào đó đã dựng lên hai tấm bảng ấy. Đó là sự thực tập của những người Tin Lành và những người Cơ Đốc. Họ tin rằng nếu trong gia đình mà mọi người cùng quỳ xuống cầu nguyện thì gia đình đó có cơ hội không bị tan rã, không bị chia năm xẻ bảy. Bởi vậy, tấm bảng đó có ý nói rằng nếu trong gia đình quý vị có những sự lộn xộn, chia rẽ, khổ đau thì quý vị phải thực tập cầu nguyện với nhau mỗi ngày. Cầu nguyện Thượng Đế, cầu nguyện Mẹ Maria, cầu nguyện Chúa Kitô, và phương pháp cầu nguyện có thể gọi là phương pháp gần như duy nhất để thực tập trong giáo lý của Cơ Đốc giáo. Và khi tất cả mọi người trong gia đình có chung một đối tượng để cầu nguyện thì những khó khăn, những khổ đau của gia đình đó cũng sẽ giảm bớt. Gia đình đó có cơ hội được lành lặn và không bị tan rã. Tôi thấy có một phần sự thật trong các phát ngôn ấy. Tại vì khi chúng ta cùng có một niềm tin và biết cùng nhìn về một hướng thì gia đình chúng ta có nhiều cơ hội để tồn tại hơn mà không bị tan vỡ hay chia rẽ. Chúng ta thuộc về truyền thống đạo Bụt, chúng ta cũng có những phương pháp thực tập như tụng kinh, hộ niệm, niệm Bụt. Chúng ta cũng tin tưởng rằng nếu chúng ta biết tập họp gia đình lại để cùng tụng kinh, cùng niệm Bụt thì chúng ta sẽ có cơ hội hàn gắn lại những đổ vỡ, thiết lập lại truyền thông trong gia đình và giữ cho gia đình không bị tan rã. Nhưng ngoài phương pháp tụng kinh, niệm Bụt và hộ niệm ra còn có rất nhiều phương pháp khác mà nếu học được, nắm vững được thì chúng ta sẽ thành công hơn trong sự duy trì liên hệ gia đình và giúp cho gia đình chúng ta được vững chãi và hạnh phúc. Đức Thế Tôn đã dạy rất nhiều pháp môn, chỉ cần mang một vài pháp môn đó ra để thực tập thì chúng ta đã có thể thiết lập được sự vững chãi, sự toàn vẹn của gia đình mình. Trở về để khám phá Cấu trúc của gia đình Việt Nam có khác với cấu trúc của gia đình Bắc Mỹ, nhưng khi chúng ta đã rời quê hương để sang đó sinh sống thì chúng ta bắt đầu bị ảnh hưởng lối sống của người Bắc Mỹ. Vì vậy chúng ta cũng bắt đầu có những vấn đề như người Bắc Mỹ. Tôi nhớ hồi đồng bào mới bắt đầu di cư sang phương Tây, ở châu Âu cũng như ở châu Mỹ, con cái của chúng ta học rất giỏi ở các trường tiểu học. Các cháu đứng đầu lớp là chuyện thường. Nhưng sự kiện đó chỉ kéo dài được năm hoặc sáu năm thôi và sau đó việc học của các cháu bắt đầu đi xuống. Nhìn cho kỹ thì ta thấy rằng, ban đầu, cấu trúc của gia đình còn rất vững nên em bé an tâm và thành công trong sự học tập. Nhưng khi gia đình bắt đầu bị lung lay, bị ảnh hưởng bởi nếp sống phương Tây, khi người cha, người mẹ, người anh, người chị có những khổ đau mới, cộng với những khổ đau của người xa xứ, thì em bé mất chỗ nương tựa vững chãi từ gia đình, vì vậy em bé không còn học giỏi nữa. Điều này nếu quý vị học về xã hội học, nhân chủng học hoặc từng lưu tâm tới thì quý vị cũng trông thấy. Một vị dược sĩ hành nghề ở Canada cho tôi biết rằng ban đầu thanh niên Việt Nam không vướng vào vòng ma túy và không cần đến thuốc ngủ hay thuốc an thần. Những người mua thuốc ngủ và thuốc an thần. toàn là người phương Tây. Nhưng chừng sáu bảy năm sau thì đồng bào ta bắt đầu tới mua thuốc ngủ và thuốc an thần. Điều đó cho thấy rằng chúng ta đã chịu ảnh hưởng bởi lối sống của xã hội phương Tây. Nếp sống tâm linh, nếp sống tinh thần cũng như nếp sống gia đình của chúng ta đã bị ảnh hưởng một cách nặng nề và chúng ta bắt đầu khổ đau, những khổ đau của người phương Tây, cộng thêm những khổ đau đã có sẵn. Trước đó cấu trúc gia đình của người Việt khá vững chãi nhưng sau đó đã từ từ bị lung lay và những chuyện như cha từ con, vợ bỏ chồng hay vợ chồng ly dị nhau bắt đầu xảy ra ở những gia đình người Việt. Ai mà không có ước muốn giữ cho gia đình mình được nguyên vẹn và hạnh phúc? Thế mà mấy ai trong chúng ta làm được chuyện đó, có thể giữ cho gia đình mình được toàn vẹn, hòa thuận và thương yêu? Nếu chúng ta không trở về để khám phá ra những nguyên tắc đạo lý, những phương pháp thực tập ở trong truyền thống tâm linh của chúng ta thì chúng ta không có cách gì để cứu vãn được tình trạng của bản thân và của gia đình. Người trẻ Việt Nam sống ở hải ngoại bây giờ cũng lâm vào tình trạng của người trẻ ngoại quốc và chúng ta không có phương tiện nào để bảo vệ chúng ta cả. Chúng ta nói rằng chúng ta theo đạo Bụt, chúng ta có nếp sống tâm linh. Nhưng điều đó chỉ có thể đúng một phần thôi, nhất là trên phương diện danh từ và lý thuyết. Trên phương diện hình thức, chúng ta là con của Bụt, là học trò, là đệ tử của thầy... Đúng như vậy. Chúng ta có chùa tổ ở Việt Nam và chúng ta cũng có ngôi chùa thứ hai ở trong thành phố của chúng ta. Nhưng chưa chắc điều này đã đúng trên phương diện nội dung. Tại vì có thể chúng ta cũng còn cảm thấy bơ vơ, chúng ta cũng không có những phương tiện để bảo vệ bản thân và gia đình của chúng ta...
Giọt Nước Cành Dương (Tái Bản)
Giọt Nước Cành Dương (Tái Bản) Vẫn với văn phong giản dị, Giọt Nước Cành Dương mang đến cho người đọc 15 mẩu chuyện đời thường nhưng mang đậm triết lý Phật giáo. Từ những câu chuyện xoay quanh đời sống tu hành của nhân vật Tôi cho đến những câu chuyện cổ tích và đời thường giản dị dễ hiểu nhưng hàm chứa triết lý sâu sắc, uyên thâm. 'Có những chiếc áo không bao giờ xấu và cũ. Tôi có một chiếc áo nâu đã sờn rách và bạc màu, nhưng tôi quý hơn tất cả những chiếc áo khác của tôi. Tôi không thấy chiếc áo ấy xấu và cũ một tí nào, trong khi các bạn đồng học đồng tu của tôi gọi nó là 'chiếc áo ba mươi bảy kiếp khổ hạnh'. Suốt thời gian theo học Phật ở chùa Báo Quốc tôi đã dùng chiếc áo kia với một sự ưa thích mặn nồng. Chiếc áo ấy nay đã rách quá, không còn mặc được nữa, nhưng tôi vẫn giữ kỹ bởi vì đó là một kỷ niệm quý giá trong đời xuất gia thiếu niên của tôi.' (Chiếc áo) 'Biết bao gia đình nghèo đã an toàn khi họ ở lại. Biết bao gia đình giàu có đã tan rã thảm thương vì đi lánh nạn. Đi lánh nạn, những người này lại tìm thấy tai nạn. Nói như lời của dì Tư mà đúng: 'Thời này, tai ương hoạn nạn đầy đường. Lấy đức mà đo chứ không thể lấy sự giàu có khôn ngoan mà đo được'. Có lẽ chiếc áo giáp phòng thân chắc chắn nhất là tâm đức của mình, là sự ăn ở theo lẽ phải của mình. Họa phước đều do con người tự tạo ra, không phải do một sự tình cờ nào đưa đến.' (Tiếng chuông Giao thừa)
Truyện Kiều Văn Xuôi Dành Cho Người Trẻ
Truyện Kiều Văn Xuôi Dành Cho Người Trẻ Truyện Kiều của Nguyễn Du là tác phẩm thơ nổi tiếng nhất trong nền thi ca Việt Nam. Người nào trong thời gian học trung học cũng có dịp được nghe, được học một ít về Truyện Kiều. Tuy nhiên đối với người trẻ, Kiều là một tác phẩm cổ điển, được kể bằng văn vần và có nhiều điển tích nên để thưởng thức hết được cái hay là một điều không dễ. Để giúp người trẻ tiếp cận, thưởng thức những cái hay, cái đẹp của Truyện Kiều, cũng như khơi nguồn cảm hứng tiếp cận với nguyên tác, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã dày công biên soạn tác phẩm này dưới dạng văn xuôi, gần gũi hơn với phong cách đọc của bạn trẻ. Bên cạnh đó, sách còn trích lại bài nói chuyện của sư ông tại San Jose, California vào tháng 10/1993 về chủ đề 'KIều và văn nghệ đứt ruột', phân tích nguyên căn những đau khổ mà Thuý Kiều phải chịu đựng suốt mười lăm năm dài và 'văn nghệ đứt ruột' ảnh hưởng thế nào đến cuộc sống.
Người Vô Sự (Tái Bản)
Người Vô Sự Tổ Lâm Tế là một người con có hiếu, và rất thông minh. Tổ xuất gia từ hồi còn nhỏ. Tổ đã được học rất nhiều kinh, luật và luận. Nhưng sau đó, Tổ thấy phong trào học Phật tuy rầm rộ, mà nhiều kẻ tu hành không đàng hoàng, chỉ lo kiếm danh, lợi và địa vị, cho nên Tổ chán và quyết định tu thiền để đạt tới sự chứng ngộ. Có lúc Tổ tuyên bố: 'Tất cả những gì ta học trong kinh, luật, luận đều vô ích. Làm sao cho mỗi giờ phút trong đời sống hàng ngày, ta sống được cho thật, đừng đánh mất cuộc đời trong sự tìm kiếm học hỏi.' Phần lớn những người xuất gia thường đánh mất đời mình trong sự học hỏi, tìm kiếm. Chúng ta nên nhớ rằng Lâm Tế Lục không phải là một tác phẩm do Tổ Lâm Tế viết ra. Tổ không có mục đích làm ra một tác phẩm. Đây là văn nói. Tổ chỉ dạy buổi sáng, buổi trưa và buổi chiều. Những đoạn chúng ta đang học đây là nội dung những lời Tổ dạy vào buổi chiều cho nhiều người, gọi là Khai Thị. Đệ tử của Ngài là Pháp Sư Tuệ Nhiên đã ghi chép lại. Tiếc là thầy Tuệ Nhiên không ghi hôm nay là ngày mấy, lúc mấy giờ chiều, năm mấy. Chúng ta chỉ biết rằng Tổ nói những lời ấy vào buổi chiều, còn buổi sáng thì có những vấn đáp. Tổ thử xem chúng ta tu chứng tới đâu. Nếu tu chứng không đàng hoàng thì Ngài đánh. Lâm Tế Lục kêu gọi chúng ta trở về sống cuộc đời của chính ta một cách đàng hoàng đích thực mà đừng phí đời mình trong sự tìm kiếm, dù đó là tìm kiếm Niết Bàn, tìm kiếm chân tâm, tìm kiếm giác ngộ. Đọc Lâm Tế Lục chúng ta sẽ khám phá ra con người thật của thiền sư Lâm Tế ở trong ta, chứ không phải không. Nguyên bản của Lâm Tế Lục bắt đầu bằng phần Đối Trị Căn Cơ. Nhưng chúng ta sẽ không bắt đầu bằng phần này mà bắt đầu bằng phần thứ hai, gọi là phần Khai Thị. Tại sao? Tại vì những người chưa biết gì về thiền, về phương pháp của Tổ mà bắt đầu bằng phần Đối Trị Căn cơ thì có thể cảm thấy bối rối, lạc lõng. Khai Thị có nghĩa là chỉ bày, chỉ bày cho những thiền khách hoặc những đệ tử bằng những ngôn từ rất từ bi. Đọc Lâm Tế Lục, chúng ta sẽ thấy được đức từ bi lớn của Tổ. Có nhiều khi Tổ la mắng: 'Bọn bay ngu quá, không có đủ niềm tin ở bản thân của mình...', lời nói khá nặng, nhưng kỳ thực rất từ bi. Điều đó không khó hiểu gì cả. Nếu ta mở rộng lòng ra thì ta hiểu được tất cả những điều Tổ nói, không có gì là bí hiểm cả. Nó giống như: ′‘Ăn cơm đi!' 'Dạ, ăn cơm xong rồi.', Vậy thì uống nước đi!' 'Ngồi chơi đi!'. Rất là đơn giản.
Tri Kỷ Của Bụt (Tái Bản Lần 2)
Tri Kỷ Của Bụt Chúng ta có phải là tri kỷ của Bụt không? Chúng ta có hiểu được Bụt không? Thật ra người ta đã hiểu lầm Bụt rất nhiều. Không phải chỉ những người ngoài đạo Bụt mà ngay trong chính hàng đệ tử của Bụt cũng hiểu lầm Bụt. Bụt không dạy như vậy nhưng người ta nói Bụt dạy như vậy, rất oan cho Bụt. Ta hiểu lầm Bụt, rồi truyền đạt giáo lý của Bụt một cách sai lạc và kéo theo sự hiểu lầm của cả thế hệ tương lai.Tác phẩm Tri Kỷ Của Bụt làm sáng tỏ được tinh thần rất đặc biệt của Phật giáo là khi tu tập, tìm hiểu về tư tưởng của đạo Bụt thì chúng ta phải sử dụng sự thông minh, khả năng phán xét quyết đoán độc lập của mình để nhận biết mà đừng vội tin vào bất cứ điều gì đã được ghi chép lại trong kinh. Đó là tinh thần của người học Phật, có khả năng tìm hiểu thấu đáo và phê phán tự do.Với cái thấy thông suốt và hệ thống hóa, với tinh thần nghiên cứu và phê phán tự do, chúng ta có thể thanh lọc được toàn bộ kinh điển và có thể phục hồi được tư tưởng đích thực của đức Thế Tôn, để có thể trở thành tri kỷ của Bụt.(Làng Mai)
Hạnh Phúc Cầm Tay
Hạnh Phúc Cầm Tay Cuộc sống quanh ta đầy màu nhiệm, chánh niệm là trái tim của thiền tập, là nguồn năng lượng xuyên suốt không thể thay đổi. Một người sống trong chánh niệm, tâm an, sẽ khiến những người xung quanh vui vẻ, an nhiên và thậm chí thay đổi cả xã hội. “Tất cả chúng ta đều có hạt giống của niệm và định”. “Định làm phát sinh hỷ lạc” Định nguồn căn, có định con người sẽ cảm thấy đang thực sự sống chứ không phải chỉ tồn tại. Cảm nhận cuộc đời tươi đẹp không qua đôi mắt mà qua hơi thở và tâm hồn. Thiền sư Lâm Tế đã nói rằng: “Phép lạ là đi trên mặt đất mà không phải đi trên mặt nước hay đi trên than hồng”. Tất cả những gì ta làm đều cốt yếu là để tâm an. Mỗi ngày, ta đì tìm tự do cho hạnh phúc, hay hạnh phúc để được tự do? Nếu cứ mải mê mắc kẹt trong quá khứ và lo buồn về tương lai, hiện tại sẽ tự nhiên ngả màu héo úa. Nghỉ ngơi là bước đầu tiên của thiền tập, và con đường ngắn nhất là thả lỏng và không gượng ép. Sống là để không uổng phí một đời, sống trọn vẹn từng giây phút, thanh thản từng hành động. Bước đi một cách thoải mái, an lạc, đi như không đi sẽ không thấy mệt mỏi. Sự cố gượng là không cần thiết nếu ta hiểu được rằng mỗi bước đi là mỗi bước được tiếp xúc với cuộc đời và sự màu nhiệm vô tận. Chạm vào đất Mẹ là nguồn căn của “Sám Pháp địa xúc”, người thường cũng có thể thực hành khi bế tắc, lo sợ, Người nhẫn nại bảo hộ, che chở và cho ta lối thoát, mọi thứ tự khắc trở nên nhẹ nhàng. Cuốn sách tiếp tục với Năm uẩn trong một con người: sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đều cần ta trị vì, cai quản. Có chánh niệm sẽ nhận diện được tập khí khi chúng đang phát khởi và ngăn ngừa nó hoành hành ta, quấy nhiễu giấc ngủ ta mỗi đêm. Cả những tri giác sai lầm vây bám lấy tâm trí ta, cũng sẽ được loại bỏ. Khép lại với Năm giới tân tu: Bảo vệ sự sống, Hạnh phúc chân thật, Tình thương đích thực, Lắng nghe và ái ngữ, Nuôi dưỡng và trị liệu là năm phép thực tập chánh niệm, có khả năng xóa bỏ mọi rào cản, kể cả hận thù và tuyệt vọng để ta bước đi trên con đường thanh thản, sống cuộc đời đáng sống của ta. 'Trong mỗi chúng ta, ai cũng có một em bé bị thương bên trong. Khi còn nhỏ tất cả chúng ta đều trải qua những giai đoạn khó khăn và khổ đau nên mang theo trong lòng nhiều thương tích. Để bảo vệ và phòng hộ cho chính mình, không muốn cho những khổ đau ấy xảy ra trong tương lai, ta có khuynh hướng quên đi những khổ đau thời thơ ấu. Mỗi lần tiếp xúc với những khổ đau như thế ta có cảm tưởng là ta không thể chịu nỗi và ta muốn nhận chìm những cảm thọ, những ký ức này xuống dưới vùng vô thức. Và ta không dám đối diện với em bé này đã nhiều năm rồi. Tuy nhiên, không phải vì ta không muốn để ý tới nó mà nó không có. Đứa trẻ bị thương luôn luôn có đó, muốn sự chú ý của ta. '