eBook EPUB/PDF/PRC miễn phí của tác giả “Huyền Cơ”

12 Đại Hoàng Đế Trung Hoa
12 Đại Hoàng Đế Trung Hoa Lịch sử Trung Hoa kéo dài gần 5000 năm với nhiều triều đại phong kiến. Trong những triều đại ấy, không ít vị đế vương anh minh lỗi lạc làm cho đất nước Trung Hoa trở thành phồn vinh thịnh trị nhưng cũng khá nhiều vị Hoàng đế khi chiếm được ngai vàng rồi chỉ lo ăn chơi xa hoa dâm lạc, cuối cùng để cho đất nước nghiêng ngả, nhân dân điêu linh đói khổ. Số Hoàng đế kiệt sức chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay, vì vậy trong cuốn sách này chỉ cố ghi chép lại lược sử và cuộc đời tranh đấu của 12 vị Hoàng đế tương đối có công lao nhiều với đất nước Trung Hoa.
Mưu Trí Đông Phương
Mưu Trí Đông Phương Trong lịch sử Trung Quốc sự vận dụng mưu lược hết sức mênh mông, không trừ một phạm vi nào và về đủ các phương tiện như chính trị, quân sự, kinh tế, học thuật, v.v… Có nhiều mưu kế rất kỳ tuyệt xuất phát từ những bộ óc trí tuệ kiệt xuất, dù rằng không thể áp dụng cho thời đại ngày nay nhưng vẫn là những bài học bổ ích trong việc đối nhân xử thế, trở thành con người lương thiện nhưng không dại dột.Như đã trình bày, mưu lược của con người không tự nhiên mà có, nó là thể hiện của trí tuệ nhạy bén, dựa vào học thức rộng rãi và kinh nghiệm dày dạn mới hình thành được những mưu kế “vô tiền khoáng hậu” như Khổng Minh dùng kế hoả thiêu trong trận Xích Bích, Tào Tháo ít quân hơn vẫn đại phá Viên Thiệu, v.v… Có thể nói, một người không có được mưu lượt xuất chúng, hoặc có thì cũng sẽ thất bại nhan chóng giống như cây không có gốc rễ vậy. Tại sao người ta khen ngợi Khổng Minh giống như là thần tiên? Đó là do ông biết dùng trí tuệ để phán đoán hoàn cảnh cần đối phó. Mà hoản cảnh thì biến chuyển không hề khác nha, vì vậy mới nảy sinh ra khi thì Khổng Minh dùng nhân đức tha cho Mạnh Hoạch bảy lần, khi thì dùng “không thành kế’ khiến một người trí mưu như Tư Mã Ý cũng không dám sơ suất đuổi theo, khi lại dùng vài lời lẽ đã khiến thời cuộc chuyển hẳn có lợi cho nhà Hán, v.v… Tất cả những thành công của Khổng Minh đều dựa trên cơ sở học thức phong phú của mình, suy nghĩ chín chắn rồi phát huy thành những mưu lược kỳ lạ, thay đổi bất ngờ, không ai là không khâm phục. Ông hoàn toàn không phải thần tiên nhưng chỉ có thể so sánh với tần tiên thì mới nổi rõ được trí tuệ của ông mà thôi. Như vậy, con người không sử dụng tới trí tuệ thì không khác gì động vật thụ động trước hoàn cảnh khắc nghiệt; nhưng nếu biết vận dụng thì có so sánh với “thần tiên” cũng không là quá đáng. Điểm quan trọng ở đây là trí tuệ ấy nhắm vào mục đích nào, vinh thân thì gia mặc cho người khác đói khổ điêu linh, lấy việc hãm hại người khác làm niềm vui cho mình hay là giúp cho nước nhà phồn vinh sung túc. Xuyên suốt trong lịch sử Trung Quốc cũng như thế giới, người biết vận dụng trí truệ thành những mưu kế kỳ tuyệt bao giờ cũng được người sau ca ngợi nhưng không phải bất cứ mưu kế nào cũng thành công, bởi nhiều yếu tố khác nhau, mà một trong những yếu tố đó phải kể đến sự kín đáo và bất ngờ. Một vài mưu kế tưởng như tầm thường, thế nhưng giữ được sự kín đáo và thực hiện một cách bất ngờ đều có thể mang lại thành công vang dội, thí dụ như Hàn Tín áp dụng kyế sách “Dương đông kích tây” hoàn thành kỳ tích “Minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương”. Ngay ở đời nhà Thương, tức trước Xuân Thu chiến quốc, một danh tướng hiền sĩ là Lã Thượng khi bàn về chữ “mưu” đã nói: “Đạo của mưu quý là chỗ kín đáo”. Sau này, tổ sư về binh pháp là Tôn Võ cũng khuyên các tướng lĩnh: “Muốn thắng trận thì không gì bằng giữ được sự kín đao. Kín đáo đến mức không lộ ra hình tích, không có âm thanh thì gọi là thần diệu”. Có thể nói mưu lược cao thâm đến đâu mà không giữ được sự kín đáo trước khi thi hành thì chẳng còn gọ là mưu lược nữa, có thể gọi đó là sự toan tính mà thôi, thường thì sẽ thất bại. Mưu kế dù thần diệu đến mấy mà không có chính nghĩa, không đặt lợi ích nhân loại, quốc gia lên trên thì chỉ là những thủ đoạn đê hèn, nhất thời có thành công đi nữa vẫn bị người sau chê cười, sỉ ma, thí dụ như những tên gian thần Tần Cối, Vương Mãng, Viên Thế Khải, v.v … mãi mãi làm bia miện cho thế gian.
12 Kỳ Án Trung Hoa
12 Kỳ Án Trung Hoa Với chiều dài lịch sử hơn 5000 năm, các triều đại phong kiến Trung Hoa xưa kia chắc chắn phải đối mặt với muôn vàn vụ án khó khăn, tế nhị và không ít vụ án phán đoán sai lệch, làm cho nhiều người khác bị hàm oan, bởi thiếu rất nhiều lý luận khoa học như ngày nay. Tuy nhiên, cũng không ít các phán quan công minh sáng suốt xuất hiện, giúp cho người dân giải được hàm oan. Nổi bật nhất trong các phán quan là Bao Chửng, được dân gian biết đến qua tên Bao Công ở đời Bắc Tống. Sau đó đến thời Nam Tống, một phán quan khác còn nhiều công lao hơn đó là Tống Từ, không những lấy việc giải oan cho người dân làm niềm đam mê mà còn có tinh thần rất tiến bộ, lấy pháp y học ra làm chứng cứ kết tội hoặc giải oan. Trong khi Tây phương mãi đến thập niên 17, 18 mới có hai nhà nghiên cứu pháp y học người Italia đứng ra phổ biến thì Tống Từ đã biết đến phương pháp khoa học từ hơn 450 năm trước. Sau khi Tống Từ qua đời vào 1247, tức là vào thập niên thứ 13, ông để lại cuốn 'Tẩy oan lục' rất có giá trị, giúp những phán quan đời sau có thêm tư liệu để hoàn thiện phương pháp để xử án.. Trải qua mấy trăm năm nữa, hệ thống dùng Pháp Y học làm chứng cứ xét án đã được phát triển rất mạnh và lên tới tột đỉnh vào các đời nhà Minh, Thanh với rất nhiều phán quan sáng suốt chẳng kém Bao Công Mục lục Địch Nhân Kiệt - Huyện quan sáng suốt Bao Công - Đệ nhất phán quan Bao Thanh Thiên - Linh miêu hoán chúa Hà Viên Ngoại - Gian ngoan xảo quyệt Hàn Thụy Long - Được vàng mắc tội Ngô Ngọc - Sát nhân giấu xác Tiêu Sinh - Thảm kịch gia đình Lai Pháp - Người ngay được phúc Tống Từ - Đặt nền tảng pháp y học Lý Trinh Tú - Hàm oan giết chồng Sử Minh - Xét án tỏ tường Bạch Lương Ngọc - Tra thổ thần phá án Mời bạn đón đọc.
100 Câu Hỏi Đáp Về Sinh Và Tử
100 Câu Hỏi Đáp Về Sinh Và Tử Có thể nói, ngay từ thời Hồng Hoang hay Cổ đại, các bậc thánh nhân hiền triết đã vận dụng trí tuệ của mình để cố gắng giải đáp về Sinh và Tử, nhưng cuối cùng vẫn không thể kết luận được người ta phải Sống như thế nào cho phù hợp với cái Chết đã được an bài sẵn. Thánh nhân Khổng Tử với học thuyết nhập thế thì cho rằng : 'Sống không vui mà chết cũng không buồn. Sống sao cho thong dong an nhàn, chết sao cho không hổ thẹn' là đã đạt được lẽ tối cao của Sinh và Tử. Sự sống hầu như vô nghĩa nếu như không có ích cho đời. Rõ ràng quan điểm về Sinh và Tử của con người biểu hiện muôn hình vạn trạng. Về phương diện tông giáo, Phật giáo Ấn Độ chủ trương cứu vớt chúng sinh khỏi mọi khổ đau, Đạo giáo Trung Quốc thì cố công tu tập để hy vọng có được một cuộc sống huy hoàng bất tử trên Thiên giới với hoa thơm cỏ đẹp. Từ khi Phật giáo truyền bá tới Trung Thổ, nó hoà nhập với tư tưởng của Nho gia và Đạo giáo trở thành một nét đặc sắc riêng, do vậy các quan điểm về Sinh và Tử lại càng phong phú. Cuốn sách này được biên soạn, với mong muốn sẽ đưa ra những lý giải liên quan đến sự sống và cái chết, để bạn đọc có những hiểu biết phong phú hơn về vấn đề này. Đó cũng là một tài liệu tham khảo để độc giả cùng nhau đọc, chia sẻ, đóng góp những ý kiến của mình làm cho vấn đề được mở rộng, phong phú và đúng đắn hơn. Mời bạn đón đọc.
Tu Là Cội Phúc
Tu Là Cội Phúc Tu là sửa, ấy chỉ là phần tiêu cực, mà còn phải bồi bổ mới là phần tích cực, nghĩa là sửa đổi đi những điểm xấu xa tội lỗi để không còn một bợn nhơ, một mặc cảm nào về tội lỗi và còn phải bồi đức, đúng lời Phật dạy: 'Chư ác mạc tác chúng thiện phụng hành'. Phần tu là bồi bổ, chỉ cho người một cái hướng, cái chỗ đi, nhưng chưa biết phải làm gì và đi tới đâu, tức phải nhờ vào sở học. Nhưng học gì đây? trong khi mình là một người tu, một người phế đời hành đạo, một người hướng thiện. Mời bạn đón đọc.
Bàn Về Chữ Tham
Bàn Về Chữ Tham 'Tham thì thâm, cổ nhân dạy thế', đó là những bài học đầu đời khi chúng ta cắp sách đến trường. Sở dĩ như thế là vì bất cứ ai cũng nhận biết được sự nguy hại của lòng tham, nhất là khi chúng ta quá chiều chuộng nó, biến chúng thành lòng tham lam vô độ, tất sẽ gánh lấy những hậu quả tệ hại cho cả thân lẫn tâm. Thế nhưng với thời buổi hiện đại vẫn còn đang trên đường phát triển mạnh mẽ, không ít ý kiến cho rằng lòng tham là căn bản để loài người tiến bộ hơn, tiêu diệt lòng tham, là một cảm xúc tự nhiên của loài người, tức là tiêu cực và đi ngược với lẽ tự nhiên. Với người theo quan điểm này thì không nên khống chế lòng tham mà hay nhất là tìm cách hướng lòng tham trở thành lợi ích cho loài người và xã hội. Tiếc rằng con người vốn vô minh, luôn luôn chiều đãi theo bản ngã, ưa thích không tự biết giới hạn nên lòng tham mỗi ngày càng phát triển mạnh. Nó như cây cỏ mọc hoang, nếu không được cắt xén hàng ngày, nhổ bỏ những loài cỏ độc hại thì chẳng mấy chốc 'cỏ tham' sẽ tràn ngập tâm hồn và làm cho 'cây đạo đức' chết dần vì thiếu đất sống. Riêng đối với Phật giáo, Tham chính là độc dược thứ nhất trên thế gian, là nguyên nhân hàng đầu đưa đến đau khổ và phiền não. Do vậy, dù chúng ta đã nhận biết được sự độc hại của nó, cũng nên tìm hiểu cặn kẽ hơn nữa, đừng để cho vô minh và si ngốc che khuất những nguy cơ mà lòng tham đang ẩn tàng trong tâm của mỗi người. Tập sách mỏng này không mang tham vọng giúp người đọc tiêu diệt hoàn toàn lòng tham bởi nếu thật sự mong muốn đạt tới điều đó thì phải chính tự thân chúng ta tu tập chuyên cần, không môt ai có thể giúp chúng ta khống chế được lòng tham. Chỉ hy vọng tập sách như một giọt nước trong trẻo góp phần nhỏ nhặt nhất vào sự tu tập của bạn đọc.
Tủ Sách Ngũ Thường – Luận Về Chữ Nhân
Tủ Sách Ngũ Thường - Luận Về Chữ Nhân Ở phương Đông, ngày từ trước Công nguyên rất lâu, đạo lý nhân bản đã được hiền nhân đặt để và phổ biến, dù rằng khi ấy hầu hết cuộc sống vẫn còn ở tình trạng bộ tộc. Để sống còn, người Trung Quốc thời sơ khai phải săn bắn kiếm ăn, chém giết tranh giành nhau miếng ăn chẳng khác gì động vật. Tuy nhiên, cho đến khi Thần Nông xuất hiện, dạy cho dân biết cày cấy, chỉ cách lấy lửa; Nữ Oa dạy cho dâ biết kéo tơ, dệt vải thì văn hoá đã tiến sang một bước ngoặt mới, thành lập cộng đồng xã hội. Xã hội càng ngày càng phát triển, việc tốt xen lẫn việc xấu, con người lúc đó hãy còn chạy theo bản tính tự nhiên, tức có phần thiên về thú tính. Để ngăn cản và giúp con người đừng chạy theo thú tính thấp hèn, giảm bớt những hành động trái với luân lý, cổ nhân đã đặt ra những qui phạm về luân thường, mà trong đó Ngũ thường được xem như rường cột, khuyến khích mọi người rèn tập và noi theo. Những nguyên tắc phong hoá điển hình của đạo lý Trung Quốc như Ngũ thường về sau đều được hoàn thiện bằng chữ viết như kinh lễ, Gia Lễ... mà đến ngày nay tít nhiều vẫn có giá trị. Riêng chữ Nhân - đức tính đứng đầu của Ngũ thường, thì lại khá mông lung bởi phạm vi của nó quá rộng rãi. Nếu đi sâu vào ý nghĩa của chữ Nhân, chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều những câu hỏi đại loại như: 'Thế nào là nhân, Nhân có cần đi đôi với bốn đức tính còn lại hay không?', 'Có phải giết người hay sát sinh là thiếu lòng nhân?', 'Người lính trong chiến tranh phải ra tay tàn sát đối phương có lòng nhân hay không', 'Cha mẹ yêu thương lo lắng cho con cái là lòng nhân hay chỉ vì tình yêu phụ tử?'... Những câu hỏi ấy khiến người ta khó trả lời được thông suốt nếu không hiểu biết thâm sâu về chữ Nhân. Cũng vì vậy, đôi khi chúng ta thấy một người 'bố thí' chút tiền bạc cho kẻ nghèo khó đã vênh mặc đắc ý tự cho mình là nhân đức lắm rồi. Thông thường người ta nói Nhân nghĩa, nhân ái chứ không kết hợp nhân với lễ, hiếu hoặc trí, tín. Vậy thì người nhân không cần đế lễ, trí và tín hay sao? Lòng hiếu thảo với cha mẹ anh em đã đủ thể hiện lòng nhân hay chưa? Theo nghĩa đen, Nhân tức là nhân đạo, là lòng thương yêu đồng loại, con đường mà bất cứ ai cũng nên đi theo. Dĩ nhiên, con người là phải biết thương yêu nhau, nhưng thương yêu như thế nào, thương bằng cách nào và có giới hạn về chữ Nhân hay không là điều từ ngàn xưa đến nay vẫn đáng cho chúng ta bàn cãi. Như đức Phật đã nói: 'Giết một con rắn độc là cứu muôn vạn chúng sinh', mở rộng ý nghĩa ra việc trừ diệt một kẻ gian ác thì công đức cũng tương tự như vậy...
Ngộ Về Chữ Tu
Ngộ Về Chữ Tu 'Tu' nguyên nghĩa Hán Việt là 'sửa', thí dụ như tu sửa, tu bổ, tu tập... Nếu theo Tự điển Tiếng Việt của Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc Gia thì định nghĩa của 'Tu' là 'sống theo những quy định nghiêm ngặt nhằm mục đích sửa mình theo đúng giáo lý của môt tông giáo nào đó'. Như vậy hiện thời người ta thường hiểu nghĩa chữ 'tu' theo đường hướng tông giáo. Thật sự 'tu' mang ý nghĩa khá rộng rãi, một hành vi nhận biết đúng sai để tự sửa mình cho phù hợp với đạo đức của xã hội. Không theo một tông giáo nào, người ta vẫn có thể tu tập để trở thành người hữu ích hơn hoặc tìm cầu một cuộc sống hài hoà thanh thản. Thông thường 'tu' hay đi với 'hành'. Theo âm Hán Việt thì 'hành' có thể đọc là 'hạnh', tức một trạng thái đạo đức. Do vậy 'tu hành' tức là sửa đổi tâm của mình để đạt tới những trạng thái đạo lý tốt lành, không những giúp chúng ta được bình an trong cõi thế gian này mà còn hy vọng nó sẽ là những 'cội nguồn' cho đời sau nữa.
Bàn Về Chữ Nhẫn
Bàn Về Chữ Nhẫn Cuộc sống của con người từ thuở khai thiên lập địa đến nay luôn luôn là một trường tranh đấu khắc nghiệt. Hầu hết người ta đã vận dụng tất cả những mưu trí sẵn có để chiếm lấy phần thắng hay tranh đoạt lợi ích cho riêng mình. Trải qua hơn 5000 năm, người Trung Quốc vốn coi trọng tính trí mưu đã đề ra không biết bao nhiêu là kế sách kỳ tuyệt, nhưng cuối cùng vẫn phải công nhận rằng trong những mưu trí ấy thì kế sách 'Nhẫn' đem lại nhiều thành công nhất. Do vậy dần dần 'Nhẫn' được các hiền nhân Trung Quốc đưa lên hàng tinh hoa của đạo lý chứ không chỉ đơn thuần là trí mưu nữa. Với quan điểm nhân sinh có số phận định sẵn các hiền nhân Trung Quốc còn đưa ra lý luận là đứng trước định mệnh ấy thì không ai có thể cưỡng chống lại được nếu như chưa biết 'Nhẫn'. Định mệnh có thời gian thành công huy hoàng, có thời điểm thất bại đau khổ, nếu biết 'nhẫn nhịn', chờ đúng thời cơ thì bất cứ việc gì cũng có thể thành công ít nhiều, thậm chí lật ngược được thế cờ. Theo dòng thời gian và rút tỉa các kinh nghiệm trong lịch sử, 'Nhẫn' đã trở thành trí tuệ cao nhất của con người và được mọi thế hệ học hỏi, lấy đó làm phương châm cho cuộc sống vốn đã quá nhiều đa đoan phức tạp. Nắm bắt được yếu quyết của chữ 'Nhẫn', không một trở ngại nào không thể vượt qua, không một gian nguy nào không thể hóa giải. Mời bạn đón đọc.