eBook EPUB/PDF/PRC miễn phí do “NXB Tri Thức” phát hành

Tất Định Luận Và Tự Do Lựa Chọn
Tất Định Luận Và Tự Do Lựa Chọn Tất định luận có phải là định luật phổ quát chi phối toàn bộ thế giới bao gồm cả con người hay không? Trong hiện trạng khoa học hiện nay (theo lập trường của Berlin như tôi hiểu, cũng như theo hiểu biết của tôi) ta không có lập luận logic hay bằng chứng thường nghiệm đủ để đưa ra kết luận dứt khoát khẳng định hay phủ định cho câu hỏi trên. Những tiến bộ của môn tâm sinh lí học có vẻ như chứng tỏ khu vực tự do lựa chọn của con người là bé nhỏ hơn so với quan niệm vốn có trước đây, những tiến bộ ấy cũng tạo ra nhiều phương pháp huấn luyện nhào nặn con người của những thế lực quyền uy sao cho những người khác làm theo ý chí của họ mà không tự biết là đang làm gì; và trong tình trạng ấy những người này mất đi thân phận của bản thân như những con người tự do, mặc dù họ vẫn có thể tự hài lòng với thân phận nô lệ của mình.Người ta hay nói đến giữ gìn phẩm giá của con người như chút ít tối thiểu để con người còn là con người, nhưng ít có diễn giải minh bạch về nội dung của nó. I. Berlin cho rằng đó chính là tự do lựa chọn những cứu cánh cho cuộc sống của mình bằng những hành động có chủ tâm và tự chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Con người dựa trên những phán xét nào để lựa chọn cứu cánh cho mình? I. Berlin cho rằng cần phân biệt phán xét sự kiện và phán xét giá trị. Phán xét sự kiện là phân tích tình huống để hiểu được những hậu quả của các hành động trong quá khứ cũng như dự báo những hậu quả của hành động trong tương lai. Nó ít nhiều độc lập với lựa chọn cứu cánh. Lựa chọn cứu cánh chủ yếu liên quan đến những ưu tiên về giá trị đạo đức mà cá nhân lựa chọn cho mình, đó là phán xét giá trị. Nếu tất định luận bao gồm cả thế giới con người là đúng thì sẽ chỉ còn lại phán xét sự kiện mà thôi. Những phán xét giá trị về quy trách nhiệm cùng những đánh giá khen chê đạo đức sẽ trở thành trống rỗng.
Cháu Ông Rameau (Tái Bản)
Cháu Ông Rameau Kiệt tác Cháu Ông Rameau, sáng tác khoảng năm 1761, lưu hành một vài bản ở dạng chép tay trong số bạn bè quen biết. Một bản theo Grimm về Đức, lọt vào tay Gœthe (1749 - 1832), được ông dịch ra tiếng Đức. Mãi đến 1823, Cháu Ông Rameaumới được dịch lại từ bản tiếng Đức để xuất bản ở Paris, và tới gần cuối thế kỷ XIX, năm 1891, người ta mới tìm thấy nguyên bản của nó!Cháu Ông Rameau là một thể nghiệm táo bạo của Diderot tiếp tục tìm tòi nội dung và hình thức mới của tiểu thuyết. Đó là “kiệt tác duy nhất” theo chữ dùng của Marx (1818 - 1883), và là “kiệt tác về mặt biện chứng” theo sự đánh giá của Engels (1820 - 1895).Cháu Ông Rameau là một người có thật, tên là Jean-François Rameau, cháu gọi nhạc sĩ nổi tiếng Jean-Philippe Rameau (1683 - 1764) là bác ruột. J-F. Rameau kém Diderot vài tuổi. Hắn vốn là một gã đê tiện, sống cuộc đời ăn bám bằng cách nịnh hót hoặc làm trò hề mua vui cho những kẻ có tiền bạc và đến năm 1771 thì chết trong một nhà tế bần dành cho những kẻ vô gia cư.Tiểu thuyết viết theo hình thức đối thoại giữa “Tôi” và “Hắn” trong tiệm giải khát La Régence ở gần Hoàng Cung, vào một buổi chiều, bên cạnh những người đang chơi cờ. Nếu như đối thoại choán gần hết từ đầu đến cuối trong ý kiến ngược đời về diễn viên, chỉ mãi đến khi gần kết thúc mới xuất hiện vai trò của người kể chuyện, thì ở Cháu Ông Rameau, người kể chuyện xuất hiện nhiều hơn. Tác phẩm mở đầu bằng lời của người kể chuyện: “Dù đẹp trời hay thời tiết xấu, tôi có thói quen cứ đến năm giờ chiều đi dạo ở Hoàng Cung. Thiên hạ luôn thấy tôi chỉ ngồi một mình, mơ mộng trên chiếc ghế dài ở Argenson. Tôi trò chuyện với bản thân tôi về chính trị, về tình yêu, về thị hiếu và về triết học. Tôi mặc cho đầu óc tôi tha hồ bông lông…” Tiếp đó câu chuyện giữa “Tôi” và “Hắn” hơn hai chục lần bị ngắt quãng bởi lời của người kể chuyện, đó thường là những đoạn ngắn với lối văn tự sự, kể chuyện ở ngôi thứ ba. Rameau không đơn thuần là sản phẩm thụ động của xã hội. Hắn còn vượt lên trên xã hội, quan sát nó bằng con mắt có ý thức và trí thông minh sẵn có. Hắn mò mẫm tìm ra nguyên nhân của những bất công trong xã hội: “Sự sắp đặt quỷ quái gì mà có những kẻ ngốn đầy ứ đủ thứ, trong khi những người khác có cái dạ dày quấy nhiễu như họ, có cái đói tái phát như họ, mà lại chẳng có gì để đút vào miệng”. Hắn hiểu rằng “trong thiên nhiên có các loài vật xâu xé nhau, trong xã hội có các giai cấp xâu xé nhau”. Nhưng Rameau lại rút ra kết luận muốn trở thành “một tên kẻ cướp sung sướng giữa những tên kẻ cướp giàu có”, vì hắn lý luận rằng “người ta phỉ nhổ một kẻ lưu manh tầm thường, nhưng không thể không cảm phục một tên đại gian đại ác”.Rameau chính là hình ảnh lớp ngư­ời đang vật lộn trong xã hội lúc bấy giờ để tự khẳng định, nh­ưng cuộc đấu tranh của họ không vượt ra ngoài khuôn khổ của chủ nghĩa cá nhân do đó rơi vào bế tắc.
Sự Nghèo Nàn Của Thuyết Sử Luận (Tái Bản)
Sự Nghèo Nàn Của Thuyết Sử Luận (Tái Bản) Tác giả Sự Nghèo Nàn Của Thuyết Sử Luận chứng minh rằng thuyết sử luận là một phương pháp nghèo nàn – một phương pháp không đơm hoa kết trái. Karl R. Popper đã cố chỉ ra ý nghĩa của thuyết sử luận với tính chất một cấu trúc trí tuệ đầy quyến rũ. Ông đã phân tích cái logic của thứ chủ thuyết ấy – một thứ chủ thuyết nhiều khi rất tinh vi, rất hấp dẫn và rất xảo trá – và cũng đã cố lập luận rằng nó đang mắc phải một thứ bệnh cố hữu, vô phương cứu chữa.Trích dẫn“Ta có thể diễn giải “lịch sử” như lịch sử đấu tranh giai cấp, hoặc như lịch sử đấu tranh chủng tộc để giành quyền là chủng tộc thượng đẳng, hoặc như lịch sử tư tưởng tôn giáo hoặc lịch sử đấu tranh giữa xã hội “mở” và xã hội “khép kín”, hoặc như lịch sử của tiến bộ khoa học và công nghiệp. Tất cả đều là những quan điểm mang tính quan thiết không ít thì nhiều và không có gì đáng chê trách. Nhưng các nhà sử luận lại không trình bày chúng đúng như thế; họ không nhìn ra sự cần thiết của tính đa dạng trong những cách diễn giải về cơ bản tương đương nhau (cho dù một số trong những cách diễn giải ấy có thể nổi bật lên nhờ vào tính phong phú của chúng - một điều ít nhiều có ý nghĩa). Thay vì thế, họ trình bày chúng như những học thuyết hoặc lý thuyết và khăng khăng rằng “toàn bộ lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp”, v.v. Và nếu thấy rằng quan điểm của mình là phong phú và có nhiều thực kiện có thể được sắp xếp theo thứ tự và diễn giải dưới ánh sáng quan điểm của mình, họ sẽ nhầm lẫn quan điểm với một sự chứng thực, hoặc thậm chí một phép chứng minh, cho học thuyết của họ.” (Trích Phần IV, Thuyết sử luận, Karl R. Popper).  
Tuyển Tập Dữ Liệu Lớn (Big Data)
Tuyển Tập Dữ Liệu Lớn (Big Data) Khi bạn sử dụng sản phẩm của một trong năm đại gia GAFAM (Google, Amazon, Facebook, Apple, Microsoft) chắc bạn không ngờ rằng mình đã góp phần tạo ra dữ liệu lớn (Big Data). Trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, các hoạt động hằng ngày của chúng ta (tiêu dùng, giao tiếp, di chuyển,...) tạo ra các dữ liệu, mà dấu vết là những 'mảnh vụn dạng số'. Từ thực tế này, khoa học dữ liệu (Data Science) ra đời để xử lí, trong thời gian kỉ lục, những dữ liệu đa dạng, thường ít được cấu trúc, ngày càng tăng, liên tục thay đổi, với những ứng dụng trong hầu hết mọi lĩnh vực và tác động đến mọi mặt của cuộc sống. Nhân dịp bước vào năm hoạt động thứ ba, trang Phân tích Kinh tế chọn giới thiệu 20 bài về chủ đề “nóng” này được tập hợp trong tuyển tập thứ hai[1] của nhóm, gồm ba mục chính. Chín bài đầu của tuyển tập trình bày dễ hiểu thế nào là dữ liệu lớn qua một số minh họa và ứng dụng trong các ngành khác nhau như kinh tế, giáo dục, báo chí, sử học, quản lí đô thị, y khoa, v.v. Chín bài tiếp theo đề cập vài vấn đề đang tranh luận, ví dụ như: những công nghệ tin học mới trong việc xử lí những dữ liệu cực lớn có thay đổi triết lí tin học không, sự chuyển đổi kinh tế và xã hội mà các công nghệ này tạo nên đặt ra những vấn đề nào cho sự riêng tư của cá nhân hay liệu có hay không một sự đoạn tuyệt mang tính khoa học luận, với sự chuyển tiếp từ các phương pháp giả thuyết và suy diễn mà dựa trên đó khoa học hiện đại đã được xây dựng đến một logic quy nạp, rất khác biệt với truyền thống. Và hai bài sau cùng giúp bạn đọc dễ hình dung người làm khoa học dữ liệu trong thực tiễn với việc phác họa những kĩ năng cần thiết của những ai phải làm việc hằng ngày với dữ liệu lớn.Hi vọng là tuyển tập, với các góc nhìn đa chiều, sẽ giúp bạn đọc nhận diện những triển vọng và thách thức của một kĩ thuật mới còn trên đà phát triển mạnh hầu tỉnh táo đối mặt một cách chủ động với nó.
Sống Sót Nơi Văn Phòng
Sống Sót Nơi Văn Phòng Thi thoảng giữa lúc đang nói cười với người ngoài, có khi đang cao hứng vì sắp cứu được nhân loại, tôi thoáng thấy mình đang bưng mặt khóc, trong một căn phòng chỉ có một cửa ra vào, cửa sổ đóng kín và hình như có nắng chiếu. Chỉ đột nhiên thế thôi, rồi tôi lại cười tiếp. Hình như không cười, ta chết mất. Không cười, không ai vui vẻ với ta.Chẳng hiểu sao có lúc đang cảm động với một câu chuyện tầm phào được kể ra như thể có thật, tôi bỗng nhớ tôi từng trẻ, từng mơ mộng, nông nổi, tôi nhớ được những cảnh tượng xảy ra trong quá khứ, những người đày đọa tôi và yêu thương tôi. Lúc ấy thật dở khóc dở cười, cái cảm giác thoáng qua thôi, rồi lịm tắt. Tôi lại quay lại cảm động tiếp. Tôi sẽ cảm động đến năm bao nhiêu tuổi nhỉ? Không cảm động cùng nhau, thì sau này chẳng ai cảm động vì mình cả.Có những lúc làm việc mờ mắt, tự nhiên tôi thấy mình đứng giữa một vũ trụ, chắc là vũ trụ của một kẻ làm văn phòng. Trong vũ trụ đó có mờ mờ bóng của Mặt Trời, Trăng, Tinh cầu… Quan trọng là không có báo cáo, không có mạng, không có ai đang nhìn tôi, không có ai đang chờ tôi. Một chớp nhoáng thế thôi, rồi tôi lại chăm chỉ làm báo cáo, viết, chỉnh, sửa, cắm cúi vào những checklist của tuần. Không chăm chỉ, thì sống bằng gì?Nhà tôi cách cơ quan 20 phút đi xe giờ đường chật. Hà Nội bây giờ lúc nào chẳng chật xe, kể cả hôm mưa bão cũng đầy người, họ làm cái quái gì ngoài đường thế nhỉ? 20 phút đi, 20 phút về, tôi có 40 phút của riêng mình, nghĩ ngợi đủ thứ, căm thù đủ thứ, yêu thương đủ thứ, mơ mộng đủ thứ. Đều là chuyện vui tốt cả, chỉ sợ là giữa chừng con đường ấy nhớ ra mình đang khóc ở đâu đó, từng có tuổi trẻ, và ở giữa một vũ trụ xa lạ. Mỗi lần cảm thấy mình không thuộc về nơi này, cái cảm giác bị bong ra khỏi cuộc sống vừa tệ hại vừa nức nở. Chẳng dám buồn, chỉ dám vui. Mà phải bật cười, phải cảm động, phải chăm chỉ với cái ý niệm minh bạch: ta thuộc về thực tại, cái thực tại không thuộc về ta trừ phi ta giả vờ tưởng thế.Tôi có một linh cảm dị kì: mình trải qua mọi thứ, vì thế mình có sứ mệnh vạch rõ mọi thứ, để tất cả những ai cũng biết lờ mờ như mình mà không dám nói ra những cảm giác ấy được thỏa lòng. Đó là chia sẻ sự sống. Một sự sống không chia sẻ là cái quái gì nhỉ? Sứ mệnh ấy nảy ra trong đầu khi tôi đang đi làm về, nhìn thấy hai người yêu nhau nắm lấy tay nhau, họ trẻ đẹp lấp lánh. Cái quái gì thế nhỉ? Tại sao tôi vẫn đi trên con đường này, vẫn béo, nghèo, khổ sở, còn họ thì hạnh phúc thế? Cũng có thể họ chỉ có một thời gian hạnh phúc thôi. Một thời gian để lạm dụng hạnh phúc, và đến một lúc nào đó bị khổ đau lạm dụng.Chân tôi thường chảy máu, ai cũng ngại tôi chết đột ngột thì sao, có lẽ họ ngại thật, có nhiều người thật sự yêu quý tôi. Rồi tôi nhận ra cái ý nghĩ có thể mình sẽ chết rất đột ngột là một ý nghĩ nghiêm túc nhất. Nhưng tôi thì không nghiêm túc lắm, nên tôi để kệ mặc cả ngón chân chảy máu và những người yêu mình, để viết lại những gì tôi biết về cuộc sống này, may ra khi tôi còn sống, vẫn có thể chia sẻ với bạn bè điều gì đó.Cuộc sống của tôi là cuộc sống văn phòng, một không gian nhỏ bé chứa tất thảy ước mơ và tương lai của mọi nhân viên sống trong văn phòng. Tôi không dám buồn, cứ buồn là sẽ gục ngã. Tôi học cách sống với nó. Cuốn sách này hi vọng dạy bạn sống với nó một cách hạnh phúc, nghĩa là hạnh phúc do bạn tạo ra, chứ không chỉ là một thứ cảm giác thường được gợi ý bằng các cảm xúc, ý nghĩ.Bạn bè của tôi là những người đọc cuốn sách này. Người thân của tôi là những người cùng sống với nó. Hễ bạn đang sống trong một văn phòng, bạn nên là bạn tôi, nên là người thân của tôi.Bạn tôi ạ, người thân của tôi ạ!
Hòa Bình, Tình Yêu Và Tự Do
Hòa Bình, Tình Yêu Và Tự Do Trong cuốn sách Hòa bình, Tình yêu và Tự do, các tác giả đã dựa trên những nền tảng của nhiều lĩnh vực, bao gồm: tâm lý học, kinh tế học, khoa học chính trị, lịch sử, luật pháp, xã hội học, triết học đạo đức, thơ ca, văn học và mỹ học. Tất cả những lĩnh vực này đều đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc tìm hiểu bản chất của chiến tranh và hòa bình. Trên thực tế, bạn có thể đọc riêng rẽ từng bài luận mà vẫn có thể nắm bắt được ý nghĩa và thông điệp truyền tải. Bạn cũng có thể đọc theo bất kỳ trật tự nào. Một số bài luận có tính hàn lâm cao, trong khi một số bài khác, cũng rất “nặng ký”, nhưng lại có thể đọc và nắm bắt được vấn đề mà không cần phải nhìn vào chú thích. Mục tiêu là đưa được những vấn đề quan trọng đến được với đại đa số độc giả quan tâm thông qua lý lẽ và dẫn chứng để nhằm mô tả mối liên kiết chặt chẽ giữa tự do và hòa bình. (Các lý lẽ này tập trung nhiều vào hòa bình và tự do hơn là tập trung vào yêu thương bởi một lý do đơn giản: đối với hòa bình và tự do, con người có thể đấu tranh theo một trật tự khuôn mẫu, nhưng đối với tình yêu, con người chỉ có thể cảm nhận bằng trái tim của chính mình. Vì lẽ đó, các thiết chế và hệ tư tưởng gắn với chiến tranh và hòa bình được tập trung khai thác với hy vọng: hòa bình sẽ được lựa chọn, lòng căm ghét sẽ được xóa bỏ và yêu thương sẽ làm nên tất cả.)
Lính Thợ Đông Dương Ở Pháp (1939 – 1952) – Một Trang Sử Thuộc Địa Bị Lãng Quên
Lính Thợ Đông Dương Ở Pháp (1939 - 1952) - Một Trang Sử Thuộc Địa Bị Lãng Quên Tháng Chín năm 1939, khi nước Pháp tuyên chiến với phát xít Đức, chính phủ Pháp đã đưa hai vạn thanh niên Việt Nam đến chính quốc nhằm phục vụ kỹ nghệ chiến tranh. Ngoại trừ thiểu số khoảng 5% con em nhà khá giả và có ăn học tình nguyện đăng kí làm thông ngôn, còn lại đều là nông dân nghèo ít chữ bị trưng tập cưỡng bức từ làng quê, và khi đến Pháp được đưa vào làm công nhân trong các nhà máy vũ khí trực thuộc Bộ Quốc phòng. Những người lao động này được gọi nôm na là lính thợ Đông Dương hay ONS (ouvrier non spécialisé), tức thợ không tay nghề chuyên môn. Sau khi nước Pháp thua trận trước Đức quốc xã tháng Sáu năm 1940, chỉ có khoảng 4.500 người được trở về quê hương. Số còn lại được đưa về miền Nam nước Pháp và được trưng dụng vào nhiều lĩnh vực sản xuất trong suốt thời gian chiến tranh. Mặc dù thuộc thành phần dân sự và chưa một ngày mặc áo lính, họ vẫn phải phục tùng kỉ luật quân đội nghiêm ngặt dưới sự cai quản của các cựu sĩ quan Pháp từng phục vụ lâu năm ở các thuộc địa, chịu cảnh sống câu thúc sau hàng rào kẽm gai các doanh trại trong điều kiện thiếu thốn cùng cực, và bị bóc lột sức lao động một cách triệt để mà không được hưởng đồng lương thỏa đáng . Năm 1942, 500 người trong số này được gửi đến Camargue để tìm cách phục hồi nghề trồng lúa gạo. Nhờ kinh nghiệm cha ông để lại, họ đã thành công trong việc cải tạo những thửa đất nhiễm mặn từ nhiều thế kỷ thành một vùng lúa gạo đặc sản với năng suất cao, là niềm tự hào của miền Nam nước Pháp ngày nay. Sống trên đất khách quê người, nhưng người lính thợ luôn một lòng hướng về Tổ quốc. Họ đã tiến hành nhiều hoạt động như làm báo, rải truyền đơn, treo cờ đỏ sao vàng, đình công, biểu tình…nhằm ủng hộ công cuộc kháng chiến giành độc lập của nhân dân Việt Nam và phản đối thực dân Pháp tái xâm lược nước ta. Năm 1946 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau, hàng ngàn lính thợ đã tổ chức mít tinh trọng thể để chào đón vị lãnh tụ của dân tộc. Phong trào đấu tranh của lính thợ ngày càng lan rộng đã khiến chính phủ Pháp hết sức lo  ngại, buộc họ phải lần lượt tổ chức hồi hương cho những người lao động này. Khoảng hai ba ngàn người chọn ở lại sinh sống trên đất Pháp. ...Do hoàn cảnh chiến tranh và những hệ lụy khá tế nhị về lịch sử mà hơn bảy mươi năm qua câu chuyện về những người lao động này vẫn bị vùi sâu trong ký ức hai dân tộc. Chỉ đến năm 2009, khi Lính Thợ Đông Dương Ở Pháp (1939 - 1952) - Một Trang Sử Thuộc Địa Bị Lãng Quên ra đời thì sự thật ấy cuối cùng mới được phơi bày trước công luận. Cuốn sách gây nhiều tiếng vang, được liên tục tái bản, được chuyển thể thành phim và là đề tài của cuộc triển lãm lưu động cũng như rất nhiều cuộc hội thảo trên khắp nước Pháp, đã thực sự đánh động lương tri người dân Pháp và khiến chính phủ của họ phải có động thái thích hợp. Nhiều địa phương ở Pháp đã lần lượt tổ chức lễ tôn vinh cựu lính thợ với sự hiện diện rất ít ỏi các nhân chứng nay đã vào tuổi gần đất xa trời. Và ngày 05/10/2014, tượng đài kỷ niệm cấp nhà nước nhằm tưởng nhớ công lao của 20.000 người lao động Việt Nam bị cưỡng bức lưu đày trong Thế chiến II đã được long trọng khánh thành ở Camargue dưới sự chứng kiến của lãnh đạo cấp cao Cộng hòa Pháp cùng đại diện chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, như là là lời công khai thừa nhận từ hai quốc gia, rằng những cựu lao động này thực sự là nạn nhân của chế độ thực dân thuộc địa một thời. Cuốn sách đã hoàn thành nhiệm vụ giúp trả lại công bằng cho hai vạn người lính thợ Việt Nam, và đó cũng là tâm nguyện của tác giả khi thực hiện đề tài này
Lòng Tin & Vốn Xã Hội
Lòng Tin & Vốn Xã Hội Quyển sách Lòng Tin & Vốn Xã Hội bao gồm 16 vấn đề về lòng tin, vốn xã hội và các vấn đề liên quan của nhiều tác giả. Mỗi vấn đề được nhìn nhận và phân tích một cách sâu sắc và gần gũi với tình hình thực trạng xã hội tại Việt Nam. Quyển sách với giọng văn đơn giản, dễ hiểu, các vấn đề được trình bày một cách mạch lạc, rõ ràng sẽ giúp độc giả có một cái nhìn thực tế hơn về các vấn đề đang được nổi cộm hiện nay, đặc biệt là về lòng tin và vốn xã hội. Sách bao gồm các chủ đề: - Tin và đáng tin - Sự tin cậy, đạo đức và luật pháp - Lòng tin trong xã hội và vốn xã hội - Tìm hiểu khái niệm vốn xã hội - Đồng tiền và xã hội Việt Nam ngày nay - Luận về biếu tặng của Marcel Mauss - Vốn xã hội và đo lường vốn xã hội - Thử nhìn lại vấn đề vốn xã hội - Vốn xã hội: nguồn gốc và những áp dụng trong xã hội học hiện đại - Nguồn vốn xã hội và sự phát triển: chương trình nghị sự tương lai - Sự giao thoa giữa vốn xã hội với các giao dịch kinh tế trong gia đình: so sánh gia đình Việt Nam và gia đình Hàn Quốc - Sử dụng vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của nông dân ven đô Hà Nội dưới tác động của đô thị hóa - Quà và vốn xã hội ở hai cộng đồng nông thôn Việt Nam - Tổng quan phương pháp phân tích mạng lưới xã hội trong nghiên cứu xã hội - Triển vọng của cách tiếp cận vốn xã hội, mạng lưới xã hội đối với nghiên cứu về quyền của người lao động trong doanh nghiệp FDI ở Việt Nam - Vai trò của mạng lưới thân thuộc trong chiến lược ứng phó rủi ro của ngườ công nhân đang làm việc tại các khi công nghiệp tỉnh Bình Dương.
Đời Sống Xã Hội Việt Nam Đương Đại (Tập 2)
Đời Sống Xã Hội Việt Nam Đương Đại (Tập 2) Xã hội Việt Nam trong bối cảnh đương đại đang tiến vào một hành trình chuyển di mạnh mẽ với quá trình phát triển của nền kinh tế công nghiệp. Hiện tượng chuyển di ấy có lẽ được thể hiện rõ nét nhất qua những dòng người di cư vào các khu đô thị hiện đại. Kết quả là những dòng người này đã nhanh chóng tiếp nhập vào bản thân mình những đặc điểm của môi trường đô thị và sớm trở thành lực lượng lao động giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sản xuất. Chúng ta sẽ nhìn nhận sự kiện chuyển hóa cơ cấu xã hội và tâm tính cộng đồng này như thế nào? Ở góc độ quan sát tổng thể, chúng ta thừa nhận rằng, trong cuộc mưu sinh ở nơi phố thị, đời sống của họ không luôn là màu hồng. Họ phải đối diện với rất nhiều khó khăn và rủi ro trong cuộc sống hằng ngày. Từ những rủi ro trong công việc như: thất nghiệp, bệnh tật, tai nạn lao động, v.v... cho đến những định kiến xã hội, văn hóa đã khiến cho cuộc sống của những người nhập cư vốn vất vả càng trở nên ngột ngạt, bức bách. Và để duy trì sự tồn tại của mình, trong điều kiện nghèo nàn như chúng ta đã thấy trên nhiều phương diện: vật chất, tinh thần, tri thức, vốn xã hội, v.v... buộc họ phải tìm mọi cách để xoay xở. Cũng vậy, trên bình diện tương quan xã hội, những người lao động nhập cư này dễ trở thành nạn nhân của những định kiến và kỳ thị về mặt xã hội do sự khác biệt văn hóa, ngôn ngữ hay ứng xử của họ và trở thành những người thiểu số ở đô thị. Tuy nhiên, ở một góc độ khác, nếu chúng ta bước vào trong cõi sống của họ, chúng ta sẽ bắt gặp một hình ảnh khác về những người thiểu số này. Họ không cam chịu trước những sức ép của cuộc sống, trái lại họ luôn tìm kiếm những phương cách khác nhau để cải thiện hay thay đổi hoàn cảnh sống của chính mình.Trong viễn ảnh đó, tiếp cận về người thiểu số ở đô thị không chỉ đòi hỏi nhà nghiên cứu diễn giải từ các quan điểm trừu tượng, có sẵn mà còn đòi hỏi nhà nghiên cứu phải hòa mình vào trong cuộc sống của cộng đồng để có thể hiểu và trải nghiệm những thực hành văn hóa và các quan điểm cá nhân của chính chủ thể mà nhà nghiên cứu đang tương tác. Đây cũng là chủ đề đã được bàn luận trong tập một của tuyển tập Đời Sống Xã Hội Việt Nam Đương Đại với chủ đề “Tình cảnh sống của người công nhân: Thân phận, rủi ro và chiến lược sống”.
Chủ Nghĩa Cá Nhân Và Trật Tự Kinh Tế
Chủ Nghĩa Cá Nhân Và Trật Tự Kinh Tế Đa số các bài tiểu luận trong quyển sách Chủ Nghĩa Cá Nhân Và Trật Tự Kinh Tế của F. A. Hayek dành cho giới nghiên cứu kinh tế chuyên sâu hơn là cho các độc giả đại chúng. Đã từ lâu, Chủ Nghĩa Cá Nhân Và Trật Tự Kinh Tế đã trở thành một tác phẩm mà bất cứ ai muốn trở thành một nhà kinh tế học thực thụ đều cần phải đọc. Vì lẽ đó, bản dịch tiếng Việt này nên được cân nhắc như là một tài liệu tham khảo ban đầu để giúp các độc giả Việt Nam dễ nắm bắt hơn các ý tưởng của Hayek chứ không có ý định thay thế cho bản gốc. Để có thể hiểu được các nội dung của tác phẩm tốt hơn độc giả có lẽ nên nghe các bài giảng của Tyler Cowen và Alex Tabarrok về tác phẩm. Độc giả cũng nên tham khảo các nghiên cứu, phân tích của nhiều tác giả liên quan đến những nội dung khác nhau của tác phẩm này. Tôi tin rằng sau khi đọc và tìm hiểu kĩ tác phẩm độc giả sẽ cảm thấy ngạc nhiên vì sao những nội dung được Hayek viết cách đây 70-80 năm lại vẫn là những vấn đề mà giới kinh tế học hàn lâm hiện trao đổi trong suốt mấy chục năm vừa qua và có lẽ sẽ tiếp tục trong nhiều thập kỉ nữa. Và độc giả sẽ hiểu vì sao tác phẩm này lại hoàn toàn xứng đáng đứng song hành cùng với tác phẩm Của cải của các quốc gia của Adam Smith như cách mà Tyler Cowen và Alex Tabarrok đã làm. Nội dung sách bao gồm các chủ đề: 1. Chủ nghĩa cá nhân: Thật và Giả 2. Kinh tế học và tri thức 3. Bàn về khái niệm sự kiện trong nhóm ngành khoa học xã hội 4. Sử dụng tri thức trong xã hội 5. Ý nghĩa của cạnh tranh 6. Kinh doanh “tự do” và trật tự cạnh tranh 7. Tính toán xã hội chủ nghĩa I: Bản chất và lịch sử của vấn đề 8. Tính toán xã hội chủ nghĩa II: Hiện trạng cuộc tranh luận (1935) 9. Tính toán xã hội chủ nghĩa III: 'Giải pháp' cạnh tranh 10. Về một đồng tiền được bảo đảm bằng hàng hóa 11. Hiệu ứng Ricardo 12. Các điều kiện kinh tế cho chế độ liên bang giữa các nước
Việt Nam, Tình Yêu Của Tôi
Việt Nam, Tình Yêu Của Tôi Ernst Frey sinh năm 1915 ở thành phố Vienna. Năm 1934 gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng Sản. Nhiều lần bị giam giữ dưới chế độ phát xít Áo. Tháng 4 năm 1938 trốn chạy sang Thụy Sĩ, ở đấy ông bị giam giữ nhiều tháng. Khi được tự do ông đến Pháp với mục tiêu tham gia Binh đoàn Quốc tế trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha. Nhưng ông lại rơi vào Đội Quân Lê Dương và đến Algeria. Từ năm 1941, ông đến Đông Dương với tư cách Tình nguyện quân. Tháng 3 năm 1945 Nhật bản xâm lược Đông Dương. Tháng 9 năm 1945 Frey bị Nhật bắt làm tù binh. Nhưng chỉ ít lâu sau ông trốn sang hàng ngũ Việt Minh, ở đấy đầu tiên ông tham gia huấn luyện quân sự, rồi được phong hàm đại tá. Tháng 9 năm 1950 ông rời Việt Nam về Vienna và mất năm 1994 tại đó. Ernst Frey, cuộc đời ông không chỉ mang bản chất của một người chiến sĩ, mà còn cả của một người đi tìm kiếm, là người chứng kiến những năm 1930 giết chóc ở Áo, bị xua đuổi kép vì vừa là người Do Thái vừa là đảng viên cộng sản, đã bị bỏ tù đôi lần rồi cuối cùng, vào năm 1938, bỏ trốn bọn Quốc xã. Qua những con đường vòng vèo, ông đến được Việt Nam, ở đó ông tham gia Việt Minh và đấu tranh cho nền độc lập của nước này. Chỉ ít dòng này đã cho thấy trải nghiệm của ông phong phú đến nhường nào - và qua đó cũng có cả vấn đề đặt ra cho tôi: thực ra, vấn đề ở đây xoay quanh bao nhiêu câu chuyện lịch sử? Các trải nghiệm ở Áo, cuộc đấu tranh chính trị chống chế độ phát xít Áo, sự lớn mạnh của bọn Quốc xã và cuối cùng là cuộc trốn chạy - tất cả những điều đó đã cung cấp đủ chất liệu cho một cuốn sách. Thế nhưng tiếp theo là những chuyện khó tin song đầy quyến rũ về cuộc sống ở Đông Dương thời ấy, về thời gian bị Nhật bắt làm tù binh, sự kết thúc Thế chiến II và quyết định tham gia vào cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì nền độc lập của đất nước - riêng điều đó đã có thể cung cấp đủ chất liệu cho một cuốn sách nữa. Vậy là ở đây không chỉ có hai cuốn sách - như ngay từ đầu có vẻ như vậy - đấy là hai câu chuyện mà chúng rất khó gộp thành một. Dù sao cuối cùng thì đấy cũng là một cuộc đời và điều đó đưa đến quyết định phải thể hiện câu chuyện trong toàn cục của nó.
Chữ Số Hay Lịch Sử Một Phát Minh Vĩ Đại
Chữ Số Hay Lịch Sử Một Phát Minh Vĩ Đại Bạn sẽ khám phá tổ tiên chúng ta đã đếm và làm tính ra sao, sẽ hiểu tại sao bốn phép tính số học trong hàng chục thế kỷ lại là một nghệ thuật khó hiểu và phức tạp chỉ có trong tay một số người am tường hiếm hoi. Bạn sẽ tìm thấy ở đây bằng phương tiện kỳ diệu nào chữ số Ấn Độ đã trở thành chữ số của chúng ta ngày nay.Dũng chữ số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 0 dường như hiển nhiên đến nỗi chúng ta cứ xem như đấy là một khả năng bẩm sinh của con người, nhưng ngày nào chữ số La Mã còn đó thì chúng còn nhắc nhở rằng tổ tiên đã có lúc không đếm cũng như không viết chữ số như chúng ta bây giờ.Với quá trình ngập ngừng đầy bế tắc và trắc trở, lịch sử chữ số kể lại một sự kiện mang tính cách mạng chẳng khác gì cách chế ngự lửa... quả là một phát minh vĩ đại...