eBook EPUB/PDF/PRC miễn phí do “Công ty Cổ phần sách Tao Đàn” phát hành

Ngôi Nhà Thạch Lựu
Ngôi Nhà Thạch Lựu Bằng ngôn ngữ phong phú giàu âm điệu, hình ảnh lung linh gợi cảm, những tình tiết kỳ lạ cuốn hút, Ngôi Nhà Thạch Lựu đã gợi cho người đọc đến với thế giới Thần thoại Hy Lạp của Persephone và Hades, đến với Kinh Thánh và cả Ngàn lẻ một đêm xứ Ba Tư. Với phong cách đặc trưng của mình, Oscar Wilde lại xoáy vào các vấn đề như: Tình Yêu đối nghịch với Cám Dỗ, Đạo Đức đối chọi lại Cái Đẹp, Nỗi Đau đi ngược chiều Hy Vọng. Liệu người ta có đúng không khi để bản năng tự cao tự đại chống lại những niềm tin mù quáng? Liệu người ta có đúng không khi sống hết mình cho tình yêu, hi sinh tất thảy cho tình cảm? Làm thế nào để nuôi dưỡng sự tử tế, lòng nhân ái bao dung và tình cảm chân thực giữa người với người?
Khi Loài Vật Lên Ngôi
Khi Loài Vật Lên Ngôi “Khi loài vật lên ngôi” – của Karel Čapek là một tác phẩm văn chương mang đầy tính tiên tri pha lẫn hài hước, châm biếm và phản biện xã hội cực kỳ sâu sắc; từ khoa học, nghệ thuật, giáo dục, kinh doanh, chính trị, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa nô lệ, chủ nghĩa quân phiệt, pháp luật, tôn giáo, triết học, sự phân biệt chủng tộc, quyền lực báo chí, và mọi đặc điểm của bản chất con người mà ta có thể nghĩ đến, không gì thuộc về con người mà xa lạ với Karel Čapek!Khi Karl Marx giải thích sự biến đổi xã hội, giải thích về sự phân chia gia cấp và để xây dựng một lý thuyết về lịch sử phát triển xã hội ông đã đưa ra 3 câu hỏi: - Tại sao xã hội lại biến đổi? - Xã hội biến đổi như thế nào? - Tương lai xã hội sẽ ra sao? Karel Čapek đã trả lời một cách sắc bén và đầy đủ những câu hỏi ấy. Không những thế ông còn viết lại được cả lịch sử tiến trình của văn minh và đưa ra được cả một dự báo mang tính tiên tri cho cả nhân loại. Như Milan Kundera từng nói “Khi loài vật lên ngôi sẽ không bao giờ rơi vào quên lãng… Čapek có lẽ là nhà văn châu Âu đầu tiên có những tác phẩm hình dung trước được viễn cảnh khủng khiếp của thế giới toàn trị.”“Khi loài vật lên ngôi” còn là cảm hứng cho vô số tác phẩm lừng danh được xuất bản sau này, có thể liệt kê ra như: 1984 hay Animal farm của George Orwell; hay The Sirens of Titan, Harrison Bergeron của Kurt Vonnegut… và ngay cả ý tưởng Sinh sản đơn tính của khủng long trong Jurassic Park…Ngoài ra, “Khi loài vật lên ngôi” là trường hợp tiên phong và độc đáo nhất trong tiểu thuyết về cả FORM và STYLE. Čapek đã đi trước thời đại trong việc sử dụng yếu tố thị giác để tạo thêm những tầng lớp ý nghĩa khác cho văn bản. Čapek là họa sĩ trước khi thành nhà văn kiêm nhà báo, và kỹ thuật đồ họa báo chí được Čapek khai thác triệt để trong “Khi loài vật lên ngôi” để tạo thành một hình thức anti-novel đi trước thời đại. Bản dịch Tiếng Việt đã được Tao Đàn trình bày theo đúng tinh thần trình diễn thị giác, tạo bất ngờ rất lớn cho người đọc.
Hai Chậu Lan Tố Tâm
Hai Chậu Lan Tố Tâm Hai chậu lan Tố Tâm là truyện ngắn Việt Nam đã được giải Nhì, đồng hạng với Nhật Bản, trong cuộc thi truyện ngắn giữa các quốc gia vùng Đông Nam Á (gồm có Trung Hoa Dân Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Phi Luật Tân, Mã Lai, Ấn Độ, Hương Cảng, Hồi Quốc và Việt Nam) do Trung tâm Văn bút Phi Luật Tân tổ chức và tuyên bố kết quả vào thượng bán niên 1964 . Truyện này trước kia đã được đăng trong tuyển tập Cô gái xóm nghèo, tác phẩm đầu tay của Phan Du, do nhà xuất bản Văn hữu Á châu ấn hành vào năm 1959. Nhưng sau khi quyển Cô gái xóm nghèo ra đời, với những trắc trở bất thường của nó, với sự góp ý của các bạn văn, tác giả Phan Du mới có ý định kiểm điểm lại những truyện ngắn của mình trên hai mươi năm sáng tác: truyện ngắn cũ nhất của ông - Bữa cơm chay - đăng trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy của Vũ Đình Long xuất bản ở Hà Nội vào năm 1942, và truyện mới nhất, khá dài, gọi là Hồi hộp đăng ở tờ Văn của Nguyễn Đình Vượng và Trần Phong Giao vào số 26 (đầu năm 1965) nhưng sau khi việc sắp chữ hoàn thành, truyện này đã bị kiểm duyệt bỏ hết. Là một ngòi bút vững vàng từ thời tiền chiến và đến bây giờ vẫn còn nguyên vẹn nhiệt tình ngày trước, cộng thêm sự điêu luyện của bao nhiêu năm kinh nghiệm trong nghề, ông đã sáng tác được một số lượng khá lớn truyện ngắn. Nhưng vốn khiêm tốn quá nhiều đến gần như thích cuộc sống ẩn mình, ông không quan tâm đến việc ấn hành tác phẩm. Gần đây, sau khi truyện Hai chậu lan Tố Tâm đã được giải thưởng quốc tế một cách âm thầm, nhà văn Phan Du cũng không tỏ ra hứng khởi thêm được chút nào trong sự giới thiệu những sáng tác phẩm của mình. Một vài bạn văn ít ỏi của ông bất bình trước sự im lặng của giải thưởng ấy, và cả của ông, nhiều lần khuyến khích ông cho ra đời tất cả truyện ngắn sáng tác trên hai chục năm. Trước sự thúc đẩy nồng hậu của nhà Cảo Thơm, ông đã bỏ mất khá nhiều thì giờ để sưu tập lại hết sức khó khăn những sáng tác của giai đoạn đầu, chỉ còn giữ mỗi ba truyện: Sống gửi, Thuốc cá, Khóc thật in ở cuối tác phẩm này. Ba truyện ấy là di sản của Phan Du tiền chiến. Nhà văn Phan Du luôn giữ được nét thuần nhất trong một thái độ về đời. Ông vẫn tiếp tục nụ cười chua xót trước những cảnh đời giả dối, vụ lợi, và vẫn tuyên truyền tình thương, phả khuyến từ thiện một cách rộng rãi, tuy vẫn không quên thỉnh thoảng bày tỏ đôi chút bất bình. Qua những cái nhìn thương hại, qua những nụ cười xót xa, chúng ta thấy được một ý bảo tồn, một chút an ủi, một niềm tin tưởng ở cái tính thiện cũng như lương tâm con người. Chúng  ta có thể tìm gặp ở nơi Phan Du những nguồn rung cảm lớn lao của một tâm hồn hướng thiện đã bắt gặp được ở trong sự sinh hoạt bình thường khá nhiều sự thực cao quý vốn là lẽ phải chân chính của đời: ở trong tác phẩm của ông, bao giờ hai cái sức mạnh Thiện, Ác cũng được đối đầu mãnh liệt, và sau nhiều phen tranh chấp gay go, cái Thiện vẫn nắm được phần thắng lợi, cũng như nó phải giành lấy thắng lợi ngoài đời. Giữa lúc nhiều người văn nghệ không rút chân khỏi đầm lầy cá nhân với những suy tư bất lực, nhà văn Phan Du vẫn giữ sáng được tấm lòng, vẫn cố hướng về những ý chí cao cả, trong một khuôn điệu nghệ thuật vững vàng đạt đến mực thước tinh vi cổ điển. Không đuổi theo những bong bóng sặc sỡ của các ảo tưởng gọi là 'văn chương thời đại', không tự mê hoặc, và không mê hoặc người khác, nhà văn Phan Du vẫn cứ tiếp tục đều đặn con đường sáng sủa của mình. Và dầu mặt trời tuổi tác có quay chiều xuống chân mây, bước đường từ tốn của ông vẫn đang đi lên, vẫn cố đi lên mãi mãi theo với cuộc đời dân tộc.
Người Vô Hình
Người Vô Hình Bắt nguồn từ nhu cầu che giấu bản thân và thể hiện quyền lực siêu nhiên, từ ngàn xưa con người đã có khát vọng được làm chủ khả năng tàng hình. Ước mơ đó được thể hiện từ truyền thuyết về chiếc mũ tàng hình của Hades trong thần thoại Hy Lạp đến chiếc áo choàng màu nhiệm của Harry Potter. Nhà triết học Plato từ hơn 2000 năm trước đã đặt ra câu hỏi: “Liệu rằng con người sẽ thay đổi ra sao khi chúng ta nắm giữ được khả năng tàng hình?”. Năm 1897, quyển tiểu thuyết khoa học viễn tưởng Người Vô Hình của nhà văn H. G. Wells ra đời đã trả lời cho câu hỏi của Plato dưới góc nhìn của một nhà khoa học.Nhưng “Người vô hình” không chỉ là câu chuyện khoa học viễn tưởng, mà còn là câu chuyện về cái thiện và cái ác, câu chuyện về quyền lực và sự suy đồi đạo đức. Quyền lực là mảnh đất màu mỡ cho những hạt mầm xấu nảy sinh. Một khi con người chạm vào đỉnh cao quyền lực, lòng tham và cái ác sẽ trỗi dậy. Quyền lực làm người ta tha hóa. Quyền lực tuyệt đối sẽ dẫn đến cái ác tuyệt đối.
Sanshirō
Sanshirō Hầu hết người dân Nhật Bản sẽ phải đọc một cuốn tiểu thuyết Natsume Sōseki ít nhất một lần trong đời. Văn chương của Sōseki là chìa khóa cho sự hiểu biết về lịch sử Nhật Bản cận-hiện đại; các tác phẩm của ông nắm bắt được linh hồn của thời kỳ Minh Trị. Natsume Sōseki thể hiện cái nhìn phi thường sâu sắc vào một Nhật Bản đang trở mình hiện đại hóa nhanh chóng, một Nhật Bản bối rối trước những biến động không ngừng dưới ánh sáng của văn minh phương Tây.Sanshirō là một trong những tiểu thuyết được yêu thích nhất Natsume Sōseki. Sanshirō là hiện thân của tất cả các nghi ngờ, hứng thú và hoang đường của thời kỳ Minh Trị. Sanshirō là chân dung toàn hảo nhất về lớp trẻ Nhật Bản trong giai đoạn giao thời, là hình ảnh kiêu ngạo ngây thơ nhưng lại rất tinh tế sâu sắc của một thanh niên trong thời điểm xã hội giao tranh cũ mới; trước những truyền thống tập tục và đạo đức cũng đang dần phải thích ứng với những biến động của đất nước, một Nhật Bản đang trở mình trước bình minh phương tây. Câu chuyện hài hước, hình ảnh lãng mạn, ý tưởng tinh tế cùng với những triết lý sâu xa đã đưa Sanshirō thành một tiểu thuyết của thời đại.
Xã Hội Việt Nam
Xã Hội Việt Nam - Tại sao người ta lại định dạng quốc gia Việt Nam bằng một cái tên lai ghép giữa Ấn và Hoa – INDOCHINOISE? Văn hóa Việt Nam đã vay mượn gì Trung Hoa, và định hình văn hóa cho dân tộc như thế nào? Người Việt đã tạo nên một xã hội riêng, một lối sinh hoạt thế nào mà trải qua bao thế kỷ dân tộc Việt Nam không bị tan chìm và đồng hóa trong khối Hán tộc? - Tại sao luân lý Khổng Mạnh không đem áp dụng được toàn vẹn trong xã hội Việt Nam? Người Việt đã kiến tạo nên một văn minh khác hẳn với Trung Hoa ra sao? Tại sao cùng một mô hình chế độ, dưới cùng luân lý Khổng Mạnh, mà vai trò của người phụ nữ Việt Nam lại cao hơn hẳn vai trò của người phụ nữ Trung Hoa? - Mối liên hệ giữa chế độ xã hội với phương thức sản xuất đã được nhìn nhận như thế nào qua sự tiến hóa của dân tộc Việt? - Tại sao cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng lại thất bại? Tại sao cuộc cải cách của Hồ Quý Ly lại không thành công? Tại sao triều Quang Trung lại nhanh chóng sụp đổ? - Tại sao Trung Quốc có giặc Khăn Vàng, có Minh Giáo của Trương Vô Kỵ, có Bạch Liên giáo, có Thái Bình Thiên Quốc... Nhưng xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam không có bất kỳ một cuộc khởi nghĩa quy mô nào mượn danh nghĩa Tôn Giáo? - Tại sao người Việt Nam thông minh nhưng bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu năm tháng qua đi vẫn không sản sinh ra được một luận thuyết nào? Tại sao người Việt Nam lại không có được bất kỳ công trình kiến trúc hoành tráng để đời?Xã Hội Việt Nam của Lương Đức Thiệp đã bao quát toàn bộ các lĩnh vực: Văn hóa - Xã hội - Lịch sử - Tôn giáo - Kinh tế - Chính trị từ sơ sử đến cận đại, có thể nói đây là một tác phẩm đỉnh cao về khảo cứu xã hội Việt Nam theo lối xã hội học. Tường minh và chi tiết, chặt chẽ và trung thực với cái nhìn thống quát cả cuộc tiến hóa của dân tộc suốt qua lịch sử để dò xét cái quá trình phát triển biện chứng.
Việt Nam Thi Ca Luận Và Văn Chương Xã Hội
Việt Nam Thi Ca Luận Và Văn Chương Xã Hội Với Lương Đức Thiệp, Văn học là sản phẩm và vũ khí của đấu tranh đẳng cấp. Văn chương dùng để gieo rắc những ý tưởng vào ý thức dân chúng. Xung đột đẳng cấp càng gắt gao, thì “vũ khí” phải càng sắc bén. Dù văn sĩ “lẻ loi” và “vô tư” đến đâu cũng phải chịu sức chi phối âm u của quyền lợi đẳng cấp. Còn với Thi ca, cái áo thi sĩ phải mặc cho thi ca phải nhuộm bằng màu tươi thắm của cảm tình và giặt bằng linh hồn trong trắng của thi nhân. Và muốn ngăn Thi ca khỏi đi hoang sang bờ bến khác, thi sĩ phải lấy ý chí mà định một khu vực độc lập cho thi ca. Được thảnh thơi trong vườn Nghệ thuật, thi ca sẽ ra những đóa hoa vẹn Sắc Hương!... Việt Nam Thi ca luận và Văn chương xã hội không chỉ là xem thời thế luận thi ca, xem thi ca mà luận thi sĩ, xem xã hội mà luận văn chương, xem văn chương mà luận văn sĩ, mà Lương Đức Thiệp còn đưa ra những phương pháp luận về thi ca cùng thi sĩ, những phân tích thấu đáo về nhà văn và tác phẩm, những nhận định rất đúng đắn về văn chương và xã hội. Bằng những phương pháp suy luận lý tính, bằng những cảm nhận rất trực quan, bằng những lý luận rất sắc bén, cộng thêm sự sùng bái Việt ngữ, tôn thờ những giá trị dân gian, Lương Đức Thiệp đã vạch ra được cho người đọc đang rối mù trong rừng thi ca chủ nghĩa một con đường sáng, đưa ra được những kết luận về văn chương và thời cuộc, cùng những bình luận rất khách quan về đặc tính cá nhân của từng nhà văn và đẳng cấp của họ, mong xây dựng một lâu đài văn học nguy nga, góp phần dựng lên nền quốc học nước nhà vững chãi.
Đàn Bà Hư Ảo
Đàn Bà Hư Ảo Đây là câu chuyện được viết nên bởi cái nhìn tinh tế và nhạy cảm của một phụ nữ nhiều trải nghiệm. Cũng vì lẽ đó Đàn bà hư ảo đã chạm được đến chiều sâu dục vọng của con người nữ, dám sống thật với chính mình và dám đi đến tận cùng bản thể, chống lại chuẩn mực xã hội, chống lại những thường tình đời sống, bỏ qua những phán xét người đời, xem thường những định kiến, tự đặt cho mình những chuẩn mực. Một thế giới khởi nguyên của đàn bà được tác giả tạo dựng đầy chân thực từ những xúc cảm mạnh mẽ, từ những phù phiếm hư ảo… Bằng lối viết dòng ý thức cùng với cách xây dựng tâm lý nhân vật  tinh tế, dịu dàng nhưng không kém phần quyết liệt, Nguyễn Khắc Ngân Vi đã đưa người đọc chạm đến cùng những bí ẩn đầy quyến rũ của đàn bà…
Người Mê
Người Mê Rời bỏ nhiệm sở sau mấy chục năm công tác, nhân vật 'ông' tưởng chừng sẽ an nhàn hưu trí tuổi già, song ông lại khiến mọi người bất ngờ bằng việc mở một tiệm cà phê chỉ bán duy nhất cà phê – vừa để khỏa lấp những tháng năm thăm thẳm trước mắt, vừa là để làm cái điều mà ông chưa từng làm trong cả đời nhiệm sở nhạt nhẽo, không vui, chẳng tức giận, chưa từng nhiệt thành của mình. Và rồi chính tại cái quán cà phê nhỏ hẹp và già nua, ông nảy sinh tình cảm với một cô phục vụ trẻ bằng tuổi con gái mình. Từ đó người đàn ông xế bóng chiều quay quắt trong những cơn mê hư-thực, để rồi từ lúc nào miền ranh giới ấy trở nên nhòe nhoẹt, nhiễu giọt âm thầm xâm chiếm những năm còn lại của đời ông… Trong Người Mê cái thế giới hiện hữu vừa giống lại vừa không giống hiện thực bên ngoài, nó có thể xảy ra lại vừa không thể hình dung được. Một thế giới ảo và phi lý nhưng lại được tạo dựng từ những tiêu chí và cảm xúc của thế giới thật, con người thật. Nhà văn không mang đến cho người đọc những gì có thể tin ngay, phù hợp với yêu cầu thẩm mỹ của sự bắt chước, mô phỏng hiện thực, mà đưa ra một hiện thực tưởng như không thể mà vẫn có thật. Tác giả tạo nên một kiểu hiện thực khác lạ, kiểu hiện thực đa chiều kích, có thể mở rộng đến bất cứ nơi nào trí tưởng tượng của con người vươn đến. Đọc Người Mê độc giả như đứng trước một thế giới va đập bạo liệt giữa niềm tin và sự khủng hoảng, cái được và sự mất mát, tội lỗi cùng nỗi sợ hãi, sám hối và lòng ham sống… Bằng cách tổ chức linh hoạt điểm nhìn bên trong nhân vật, tạo dựng liên tục những tiết đoạn độc thoại và đối thoại nội tâm, sử dụng hiệu quả ngôn ngữ dòng ý thức, Uông Triều đã truy tìm, khám phá những bí ẩn và sự biến thiên phức tạp trong chiều sâu tâm hồn con người, lý giải những góc khuất sinh tồn lạ lẫm, mới mẻ trong thế giới nhân sinh bề bộn, đa tạp, nhiều chiều. Trích đoạn 'Tai ông ù đặc nhưng ông vẫn cảm thấy có những cái tát rất mạnh và cú đánh làm ông ngã quỵ xuống sàn nhà. Chân ông đông cứng không thể nhúc nhích và khuôn mặt ông giống như một quả cam bị hút kiệt nước, cái mụn thịt quái gở đang trương lên. Gã trai trẻ khốn nạn đó là chồng nàng, gã đánh ông để ông không thể đến gần nàng, để đảm bảo cho hắn được tận hưởng trọn vẹn ca vượt cạn khó khăn của nàng. Rồi ông nghe thấy một tiếng khóc của một đứa trẻ, có lẽ là tiếng khóc đứa con của nàng. Tai ông bớt ù đi và ông cảm thấy một nỗi đau cực độ đang nhảy múa trên mặt mình, dưới chân mình.'
Những Giấc Mơ Của Tôi
Những Giấc Mơ Của Tôi Giấc mơ luôn chiếm một vai trò then chốt trong văn chương của Tạ Duy Anh. Hầu như tiểu thuyết nào của ông cũng có một vài giấc mơ ngự trị. Hầu như nhân vật nào của ông cũng có những giấc mơ, ông thường để cho nhân vật của mình tự bộc lộ bản thể qua những giấc mơ. Qua những giấc mơ, bản chất con người và hoàn cảnh xã hội được hiện ra chân thực hơn, trần trụi hơn, sâu sắc hơn. Những giấc mơ của tôi Tạ Duy Anh đã tái hiện những suy nghĩ, những ám ảnh của những điều đã xảy ra và cả những linh cảm về những chuyện sẽ xảy đến. Một cuốn sách mà khi đọc xong hẳn bạn đọc sẽ lý giải được tại sao ông lại để cho Giấc Mơ ám ảnh mình đến thế, tại sao tiểu thuyết của ông lại có nhiều giấc mơ đến thế và nhân vật của ông lại mơ nhiều đến vậy. Tỉnh lại sau mỗi giấc mơ, nhà văn như bừng ngộ ra nhiều thứ, biết ghê sợ cái ác, biết dẹp đi lòng hiếu thắng, tính tự kiêu tự đại, cay cú ăn thua, biết vượt qua những thành kiến chi phối để tìm lại được nhân tính, bản chất thiện lương ở con người để rồi nhận ra cuộc đời còn bao nhiêu thứ đáng để sống, để yêu thương và trân trọng. Tương lai thuộc về người nào tin vào vẻ đẹp trong những giấc mơ của mình!
Thế Lực Khách Trú Và Vấn Đề Di Dân Vào Nam Kỳ
Thế Lực Khách Trú Và Vấn Đề Di Dân Vào Nam Kỳ Lịch sử sự đọc vẫn chưa quên, ở vào thời điểm Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ xuất hiện, đã từng gây nên một 'best-seller lộn kèo', sách vừa ra đến tiệm thì các nhóm Khách trú đã thuê sẵn người, mua vét cho kỳ hết mà đem đốt. Một phản ứng dội ngược, quyết liệt mang tính tự vệ tiêu cực của kẻ bị đánh trúng điểm yếu huyệt, thay vì phản biện lại bằng một công trình khoa học mang tính đối thoại, thì những người Hoa, một cách quen thuộc, lại sử dụng 'chiêu trò' sức mạnh đồng tiền và khủng bố để bôi xóa sự thật. 'Dân Tầu ở châu Á không khác gì dân Do Thái ở châu Âu, hễ gầm giời này, chỗ nào có thể kiếm ăn được, là thấy có gót chân họ, một người Hoa kiều ở Nam Dương quần đảo nói rằng: 'Người đời chỉ nói phàm chỗ có ánh sáng mặt trời chiếu đến, không chỗ nào không có ngọn cờ nước Anh, ta cho rằng phàm chỗ có nước bể chảy đến, không chỗ nào không có người Hoa kiều'. Thật ra thì cái gót chân người Tầu, chẳng những thấy những chỗ có nước bể chảy đến mà thôi, tức chí hoang cắc như Tây Bá Lợi Á, xa xôi như mấy nước Nga, nước Áo ở giữa châu Âu cũng tìm thầy họ, có người nói: Hoa kiều rải rác ra các địa vực, rộng bằng người Anh, sức giàu có bằng người Do Thái, chịu khó như người Ấn Độ, nhanh nhẹn như người Nhật Bản, đến như cái số kiều dân của họ ở đâu cũng đông, thì không kiều dân nước nào bì kịp được.' 'Người Tầu được có một cái tài, tội ác gì làm cũng nổi, mà hay lập hội bí mật thứ nhất, đã gọi là hội bí mật, thì chỉ có một mục đích, là làm cho thỏa lòng tư dục của một số ít người, mà hại đến công lý của cả xã hội.'
Những Đường Cong Mềm Mại
Những Đường Cong Mềm Mại Những đường cong mềm mại là tập truyện hài ngắn đặc sắc của tác giả Nguyễn Đình Tài. Hơn hai mươi truyện ngắn xoay quanh những đề tài mang tính thời sự, những bất công vẫn còn tồn tại trong xã hội hay những tình huống “dở khóc dở cười” của một bộ phận những cán bộ viên chức thuộc bộ máy nhà nước. Với văn phong châm biếm, đả kích, Những đường cong mềm mại mang lại cho người đọc tiếng cười nhẹ nhàng mà sâu cay, khiến người đọc không khỏi nghĩ suy về những thực trạng gợi lên trong truyện cả sau khi trang sách đã gấp lại. Trích đoạn “Vậy là, trong nhiều trường hợp, hóa ra , đi cong tiến xa hơn đi thẳng, nghe cong thường “trúng mạch” hơn nghe thẳng (vì những điều nghe cong sau lưng thật hơn nhiều so với nghe trước mặt). Còn nói cong ư? Nếu ai đó bảo bà xã của anh có vẻ hợp với mẹ chồng thì có nghĩa họ chờ bạn “xả” ra nỗi bực uất đầy ắp về cuộc chiến giữa hai vị đó. Hay cô bạn gái vợ khen “Chồng mày chăm làm việc nhà nhỉ!” thì chắc chắn họ chờ bạn “tuôn” ra hàng đống “tính xấu của lão chồng vô tích sự”. “ (Trích truyện ngắn 'Những đường cong mềm mại')